Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

Những câu nói hay của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Tiếng nói thầm kín của một người nhiều khi suốt cuộc đời không thể nào bày tỏ. Có khi bày tỏ được thì cũng chỉ là những tiếng nói dở dang. Có người dấu bặt. Tôi chưa hề quên cái hiệu lệnh muôn đời : "cái ta đáng ghét". Tuy nhiên trong cái cuộc sống thường nhật nơi đây, ngoài những ngày hét la to đầy nộ khí, vẫn có những giây phút lui về muốn thở than. Phải chăng thở than cũng là nìêm bí ẩn của con người.
Mỗi đời sống ẩn dấu một định mệnh. Có những định mệnh đời đời là cây kíem sắc. Một đôi lần trong giấc mơ tôi, bừng lên những ánh thép đó. Nhưng  tôi biết rõ rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót trên đầu những ngọn lau. Không ai muốn mình là kẻ tuyệt vọng . Bởi nhiều sớm mai tôi thức dậy không thấy được hoa quả trong trái tim người.
Tôi biết rằng dù là kẻ chiến thắng hay chiến bại suốt cuộc đời cũng không thể vui chơi. Hạnh phúc đã ngủ yên trong những ngăn kéo của quên lãng .
Tôi không bao giờ nhầm lẫn giữa khổ đau và hạnh phúc. Nhưng tôi thường rơi vào cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hoảng hốt thấy mình lơ lững giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ ụp lấy tôi mỗi đêm. Khi quanh tôi mọi người đã yên ngủ. Và tôi đau đớn nhận ra rằng, có lẽ cuộc dời đã cho ta lắm những ngày bất hạnh.
Mỗi ngày sống tới, mỗi ngày tôi thấy đời sống nhỏ nhắn thêm. Đời sống thật sự không tìm ẩn điều gì mới lạ. Có lẽ vì thế, sự quen mặt mỗi lúc gần gũi, thắm thiết hơn nên tôi càng cảm thấy yêu lắm cuộc đời. Như đáu con ngoan không tuyệt tình nổi với rẩy sắn nương khoai, nơi có bà mẹ suốt đời mắt không sáng nổi một ngày trẩy hội.
Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết vinh quan chỉ là điều dối trá. Tôi không còn điều gì nữa để cuhim bái ngoài nổi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hảy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa. Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗu chúng ta hảy thử sống cùng một lúc vừa là kẻ chiến thắng vừa là kẻ chiến bại. Nổi vinh nhục đã đưa ta ra khỏi đời sống để đưa đến đấu trường.
Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới. Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Đôi khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng vẽ lại chân dung của nhân loại. Vẽ lại con tim khối óc. Trên những trang giấy tinh khôi. Chúng tôi không bao giờ bóng giáng của đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ đất đai, trên đó đời sống không còn bạo lực.
Như thế với cuộc đời tôi đã ôm một nổi cuồn si bất tận. Mỗi đêm tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng để sống & thả trôi những tị hiềm.
Chúng ta đã đấu tranh. Đang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để dành lại quỳên sống, quỳên làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay người vĩ đại. Cõi người từ khuớc tước hiệu đó.
Chúng ta đã đấu tranh như một người trẻ tuổi & sống mệt mỏi như một kẻ già nua. Tôi muốn quên đi những trang triết lý những luận điệu phỉnh phờ. Ở đó có hai con đường. Một con đường dẫn ta về ca tụng vinh quan của đời sống. Con đường còn lại dẫn vè sự băng hoại.
Nhân loại mỗi ngày đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Đóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại : đói kém, chết chóc, thù gận, nô lệ, vong thân... 
Những đấn tối cao có lẽ đã ngủ quên với chân lý.
Và tôi đã mỏi dần vào lòng tin. Chỉ còn lại miềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt vọng, có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào đời vốn ko thể khác

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Chử ký cuối cùng của một người dành riêng cho một người

Đây không phải là bài do mình viết mà do mình sưu tầm của ca sĩ Khánh Ly

Đã đến giờ tôi phải đi. Phải từ giã Hà Nội thôi. Mọi người còn đang ngủ yên trong kia. Chỉ mình tôi ngồi trước hiên nhà. Một mình ngồi suốt 3 tiếng đồng hồ. Hạnh phúc lớn quá, mà nỗi cô đơn cũng lớn quá.
Tôi không biết đêm đã dần qua, một ngày mới đang tới. Và tôi lại sắp phải nói lời giã từ con phố mình vừa gặp lại sau 60 năm xa cách. Bao giờ trở lại. Có còn trở lại nữa không. Tôi đã 70 rồi. Đường thì xa vạn dặm mà thời gian thì vô tình. Ngày mai. Ngày mai ai biết được ngày mai đời mình sẽ ra sao. Một chớp mắt đã bãi biển nương dâu. Một chớp mắt đã nghìn trùng xa cách. Một chớp mắt đã thành kỷ niệm. Đã là quá khứ.
… Chúng tôi, những người của ba miền đất nước. Đến với nhau không nghi ngại. Toại, Sơn, Giang, Tuân, Doãn, Yến, Minh, Lộc… Anh và tôi. Chúng tôi có chung một niềm vui, một mơ ước. Dẫu hoàn cảnh gia đình không giống nhau. Tiếng cười tiếng hát vẫn rộn ràng mỗi khi chiều xuống. Những đĩa cơm nghèo chia đôi, những điếu thuốc chuyền tay. Giấc mơ về một ngày im tiếng súng, một ngày chân bước và hát trên ba miền từ thành phố đến thôn làng. Nhà thương trường học sẽ được dựng xây trên hoang tàn đổ nát. Có áo cơm cho trẻ con không nhà. Có nụ cười cho cha già mẹ yếu. Có vòng tay cho chị. Có chiếc nạng cho anh. Có tiếng cười trong căn nhà nhỏ. Bài học yêu thương phải được học lại từ đầu. Giấc mơ của tuổi trẻ Việt Nam. Giấc mơ của người Việt Nam trên khắp ba miền.
Tháng ngày bên Anh thật hạnh phúc. Anh mở cho tôi cánh cửa vào cuộc sống tốt đẹp. Phải, dù chẳng để làm gì, dù chỉ để gió cuốn đi. Dù vắng bóng ai, tấm lòng ấy vẫn còn mãi. Chúng ta có mong được đến trong cuộc đời này? Vậy thì chúng ta sẽ ở lại trong trái tim mọi người dù chỉ là một góc nhỏ nhoi. Bây giờ, nếu có ai đó bảo rằng chúng tôi rồi sẽ xa cách nhau. Sẽ có ngày phải khóc nhau. Không thể được. Không bao giờ có chuyện đó. Chúng tôi tin cậy nhau, chúng tôi yêu thương nhau, gần gũi gắn bó biết bao. Điều gì có thể chia cắt được thâm tình này.
Những ngôi nhà khang trang mái ngói đỏ nằm chen lẫn giữa những vườn cây ăn trái, ruộng lúa xanh rì bạt ngàn. Tôi cố căng mắt tìm kiếm nhưng vô ích. Tôi không tìm thấy dấu vết nào của 40 năm trước. Con đường Huế Quảng Trị ngập sâu dưới cơn mưa chẳng còn biết đâu là đường, đâu là ruộng. Chiếp Jeep lùn chậm chạp lăn bánh qua những biển nước. Cây cầu gỗ run rẩy. Chỉ có niềm tin và tình yêu mới đưa tôi đến con đường này. 60 cây số Huế - Quảng Trị sao mà quá gian nan. Tình yêu trước mặt tưởng như trong tầm với. Có ai ngờ ngay từ phút giây đầu đã phải khóc nhau. Phải. Tôi đã muốn khóc thật lớn, thật nhiều giây phút lìa xa Hà Nội. Chỉ thấy trong lòng nặng trĩu bao nhiêu nỗi niềm ấp ủ 60 năm. Giờ trên con đường này, tôi vẫn muốn dấu đi giọt nước mắt muộn màng. Làm sao tôi có thể bộc lộ nỗi lòng của mình, và mặc dù biết rất rõ, Anh cũng không nói gì, chỉ dịu dàng hơn, ân cần hơn. Anh vốn như thế. Những tình khúc của Anh là ngàn vạn lời an ủi ấm áp. Anh như muốn nhắn nhủ một điều dấu kín trong tim chỉ là những điều… dấu kín mà thôi. Hãy cứ yêu ngày tới dù đã mệt kiếp ngườivì còn cuộc đời trước mắt. Hãy cứ vui mà sống dầu đã vắng bóng ai.
Đức Mẹ La Vang và Quảng Trị không kéo tôi ra khỏi nỗi đau. Huế và Anh lại cho tôi nơi chốn bình yên. Tôi không thể khóc trong tay Anh. Tôi chỉ có thể ngồi bên Anh yên lặng mà cảm nhận tình thương từ ánh mắt dịu dàng bao dung. Ánh mắt đó vẫn theo tôi, vẫn luôn luôn nhắc nhở tôi, hãy sống tử tế với một tấm lòng. Anh vẫn đi cùng tôi qua những miền nắng ấm, những ngày bão mưa tuyết đổ. Khuôn viên Đại Học, hội trường Công Giáo, Phật Giáo. Những lớp học tiếng Việt. Trẻ mồ côi tàn tật, người già neo đơn. Tôi muốn đi cùng Anh đến mọi nơi mọi miền chia sẻ những may mắn của mình trong đời cho người bất hạnh. Anh đã nói các bạn là những người không may mắn, mất đi một phần thân thể của mình nhưng tâm hồn các bạn còn nguyên vẹn; trong khi ngoài đời có rất nhiều người lành lặn nhưng tâm hồn lại khiếm khuyết… Anh ru đời đừng tuyệt vọng. Tôi là ai… là ai… mà yêu quá đời này. Anh tuyệt vời biết bao. Anh tuyệt vời biết bao. Anh đã đến và ở lại trong trái tim những người yêu Anh. Ở lại mãi mãi vòng tay Hà Nội. Nụ cười Hội An. Tấm lòng Đà Nẵng. Mọi người sẽ đến để gặp Anh… Lại gần với nhau. Ngồi kề bên nhau. Thù hận xin quên. Đây quê hương mình… Tâm hồn Anh. Trái tim Anh sẽ mãi mãi đi cùng với người yêu Anh trên khắp các nẻo đường quê hương từ thành thị đến thôn xóm ruộng đồng.
Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ rời Việt Nam. Buổi chiều. Một buổi chiều tháng 5 con đường Duy Tân cây dài bóng mát. Con ngõ nhỏ, cho đến bây giờ, không có gì thay đổi. Tôi muốn đến chào Anh trước khi ra đi. Tôi muốn nhìn lại cái cầu thang tôi đã lên xuống nhiều lần. Tôi muốn nhìn lại chiếc ghế Anh ngồi. Chỗ Anh hay ngồi với bạn bè với tôi. Tôi muốn tìm xemAnh đã ngồi đâu khi ký cho tôi chữ ký cuối cùng. Thì ra Anh không hề quên tôi. Trong giây phút đó, Anh vẫn nhớ đến những tháng ngày hạnh phúc của một thời bé dại. Phải. Ở một nơi xa lắm, cho đến cuối đời, tôi luôn ôm ấp một tình yêu dành cho Anh. Tình yêu dành cho một người cha. Một người anh. Một người bạn.
Cánh cổng nặng nề đã khép lại sau lưng, tôi vẫn nghe lẫn trong tiếng cười vui của anh Sâm Thương, anh Nguyễn Quang Sáng, anh Dương Minh Long, Bảo Phúc, Từ Huy… Em hãy sống tử tế với mọi người…  Tôi sẽ cố gắng để dẫu không làm được gì tốt đẹp thì cũng không đến nỗi phụ tấm lòng của Anh.
Lòng tôi bỗng nhẹ nhàng bước đi không quay lại. Không có ai nhìn theo. Mãi mãi không còn ai nhìn theo. Cái Ngõ Trịnh đáng yêu ở đó có một người luôn bên cạnh tôi. Luôn đi cùng tôi. Ở đó có một ngôi nhà tôi luôn mong mỏi mở cửa bước vào mà chân cứ ngập ngừng."
Khánh Ly, California
Tháng 5/2014

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Trường ca hòn vọng phu - sáng tác lê thương

Cách đây đây mấy mươi năm  (1944-45), tại xứ Dừa tỉnh Kiến Hòa, lúc đó còn là cù lao An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, tình trạng giao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 1940 rồi tràn vào Hải Phòng Hà Nội, tôi vào nam 1941) hòa nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi 3 bài Hòn Vọng Phu thành một truyền kỳ cảm động.

Năm đó tôi tự cho là một kẻ phiêu lạc, đã từng ghé bến Quảng Châu Trung Hoa 4 tháng- ghi xong hơn 384 trang nhật ký, tiếc rằng nay đã mất hết ở Trà Vinh năm 1945 - mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người, nên tôi gởi thác tâm tình vào để tài dân tộc là Tích Người Đàn Bà Hóa Đá.

Tất cả luân lý đông phương hầu như căn cứ trên lẽ tiết trung của  Con Người các thế hệ, các giai cấp trong một nhân sinh quan sâu đậm Tình và Nghĩa.

Người Mẹ ôm con đợi chồng rồi hóa đá quả là một truyện ly kỳ tuyệt đẹp. Thành đá đây là thành “chứng quả tình thâm, tình vợ chồng chưa toại lòng nhau đã cách biệt. Tình cha con chưa từng ôm ấp đã chia ly, tình đồng loại chưa sum vầy đã tan rã.”

Nước ta có 3 đá Vọng Phu: một ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị như trong câu “ Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, hai là ở Phú Yên (nam trung việt ) có núi Vọng Phu, vùng Đèo Cả (tỉnh Phú Khánh), ba là ở Hà Tiên, có Vọng phu Thạch.

Núi Vọng phu ở Phú Yên tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u là đá đẹp nhất, xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến.

… Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có "thạch bi sơn" làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại... Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm: “Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp ổ Gà, Ma Hòn Lớn”

Lời sơ giải của dân gian kể là: Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo, thường có mây dày đặc chỉ cần gọi nhau trên đó là có mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó)

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u. Đó là Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa.

Cọp thời xưa dạn dĩ đến nỗi sau những trận mưa chúng ra đường lộ phơi nắng cho khô, bộ áo rằn ri, xe hơi thời đó bóp kèn năn nỉ chúng cũng không thèm nhúc nhích (xe thời đầu Pháp thuộc có mui dựng lên để hai bên hông trống rỗng) nên xe phải dừng lại cho mấy “ông ba mươi” đi hết mới chạy qua, vừa lên tốc độ chối chết vừa la như giặc.

Còn Hòn Lớn thì nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma hồi” đêm cứ lập lòe nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm!

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bài Hòn Vọng Phu 1.

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn.....(Hòn Vọng Phu 1)

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn,
quan với quân lên đường,
đoàn ngựa xe cuối cùng,
vừa đuổi theo lối sông.
Phiá cách quan xa trường,
quan voi quân lên đường,
hàng cờ theo trống dồn
ngoài sườn non cuối thôn,
phất phơ ngậm ngùi baỵ

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca vang rôi đi tiến binh ngoài ngàn.
người đi ngoài vạn lí quang sang,
người đứng chờ trong bóng cô đơn.
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nuối ngàn trùng.
người không rời khỏi kiếp gian nan,
người biến thành tượng đá ôm con.

Ngựa phi ngoài xa hí vang trời,
chiêng trống khua trăm hồi,
ngần ngại trên núi đồi,
rồi vọng ra khắp nơị
Phiá cách quan xa vời,
chiêng trống khua trăm hồi,
ngần ngại trên núi đồi,
rồi dậy ra khắp nơi
thắm bao niềm chia phôi.

Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
người mong chờ vẫn nhớ nơi xa
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề,
người tung hoành bên núi xa xăm,
người mong chồng còn đứng muôn năm

Bài Ai xuôi vạn lý ( Hòn Vọng Phu 2) là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn Ca Nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêng Hòn Vọng Phu  1 nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hòa, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hòa, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại...

Bỗng Tây đem tàu tấn công 3 Cù Lao, Minh, Bảo, An Hóa. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn Ánh (nay đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được vài gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh tư- bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá dòng Sầm dày 4,5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặt lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuin”(tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh man như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kao lo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bài Hòn Vọng Phu 2, tức Ai xuôi vạn lý, được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.

Ngày chót ở Dòng Sầm là ngày đại bố của tên Leroy. Hắn nghe tin có người lạ mặt trốn trong lá (vì có tên lính kín của hắn trà trộn trong đám người đi chặt lá bất ngờ gặp 2 chúng tôi).

Tên này giả đò thương hai chúng tôi, hỏi vu vơ vài câu rồi ra lộ làng. Anh Tư người che chở chúng tôi thấy nó chạy vội xuống Bình Đại, anh hốt hoảng vào kêu chúng tôi thu xếp túi áo quần, xóa vết củi than rồi tìm chổ trốn càng sâu càng tốt- như ráng chui dưới đống lá mới chặt kẻo vào bụi rậm thì dễ bị chúng bắn bừa vào cho chết.

Cả một ngày khủng khiếp tột độ kéo dài cho đến gần tối đêm, chúng tôi mới dám lần về nhà anh Tư, hỏi thăm nơi nào còn trốn được nữa. Anh dẫn đến nhà người bề trên trong dòng họ và cả trong đạo, năn nỉ xin giúp. Ông này chỉ lối cho chúng tôi ra một tha ma nhỏ có một mộ đào sẳn nhưng chưa chôn - Lấy rơm nơi gần đó trải đầy xuống đáy mộ, chúng tôi đành xuống đó nằm nghĩ qua đêm, yên lặng trong ngôi mộ như chờ lấp đất.

Vòm trời sao hình chữ nhật tỏa xuống hai thằng người nửa sống nửa chết, tuy chưa chôn nhưng đang phó thác tâm hồn cho thượng đế với hai cái xác còn đầy sức sống cầu mong được thoát nạn. Sáng hôm sau lời nguyện đã được nghe từ thiên cao: Một em trong đoàn hát tìm được chúng tôi và dẫn qua đường làng đến Vang Quới, xuống đó may về được Mỹ Tho để ngồi tù...Rồi thoát nạn.

SaiGon cuối 1947. Hòn Vọng Phu 2 với nổi lòng “người Vọng Phu” (qua) lúc gió mưa thành hình và trong nội năm 1948 nỗi lòng ấy vang dội trên các sân khấu Sài Thành với giọng ca điêu luyện của nhiều nam nữ ca sĩ trong đó có Ánh Mai, sau này thành vợ cũ của Huỳnh Văn Tiểng và vài người đẹp đã quên tên.

Sống lại với nền tân nhạc giữa thời “khai sơn phá thạch” tôi không ngớt theo đuổi ý chí kể lại khúc chót của chuyện tích mặc dù mắc kẹt với bao sáng tác của năm 1948 một năm khởi sắc với 6 bài nhạc thời sự (Hòa Bình 48, Báo Thương, Liều Thuốc Độc Lập...Dao ca, tạp khúc ca, kịch ngắn v.v.) thâu âm đĩa hát, tìm nhà ở, tìm chổ dạy học lại.v.v.

Người vọng phu trong lúc gió mưa,
Bế con đã hoài công để đứng chờ,
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ

Có đám cây trên đồi gióng trông trong mơ hồ,
Ngày nào tròn trăng lại nhớ đến tích xưa
Khi tướng quân qua đồi, kéo quân, quân theo cờ,
Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ cho đến bây giờ đã thành đoàn cổ thụ già
Mà chờ người đi mất từ ngàn xưa,
Nàng đứng ôm con,
Xem chàng về hay chưa? Về hay chưa?

Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng,
Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng.

Thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ
Những người mang mệnh biệt ly.

Trời chuyển mưa trong tiết tháng ba,
Suốt năm nước nguồn tuôn đổ xuống "Bà", hình hài người bế con nươc chảy chan hòa,
Thấm vào đến tận tâm hồn đứa con,
Nên núi non thương tình kéo nhau đi thăm nàng
Nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam.
Dâng lá hoa suối nguồn với muôn chim vô vàng
Bầy cảnh Nam Bắc đầy cỏ hoa
Như cố khuyên nàng: trở về, chớ đừng để xuân tàn,
Nhiều đồi rủ nhau kéo thành đảo xa, lan tới khơi ngàn...
Xem chàng về hay chưa, về hay chưa?

Chín con long thật lớn, muốn đem tin tới nàng,
Núi ngăn không được xuống, chúng kêu ca dưới ngàn.

Nàng cố đợi nghìn năm, một nghìn năm khác sẽ qua,
Đến khi núi lở sông mòn, mới mong tới Hòn Vọng Phu.

Người Chinh Phu về (HVP3) với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà. “Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt.

Đến đây nhân lúc mới khỏe lại về thân thể và tin đời, tôi gửi thác P Hương một điệp khúc tự sự của bài HVP 2.

o0o
Có thơ xuôi vạn lý nhắn Phương Hương mấy lời
Đá non sông tình ý vẫn trơ gan dưới đời
Ghi nghĩa nặng tình sâu
Và lòng thân tín với nhau
Vững như đá tảng non đầu
Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu

o0o
Người chinh phu trở về
Lê Thương
Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ ?

Đường chiều mịt mù cát bay tỏa bước ngựa phi
Đường trường nếp tàn y hùng cường vẫn còn bay trong gió
Bóng từ xa sắp dần qua bóng chàng chập chùng vượt núi qua khe
Với hành lương độ đường
Chiếc hùng gươm danh tướng
Dưới tà uy đếm nhịp đi vó ngựa phi

Dấn buớc tang bồng giữa nơi núi rừng
Bên nợ tình thâm, bên nợ giang san
Bên đồi ai oán, bên rừng đa đoan
Tiễn đưa bóng chàng.

Đường về nước chập chùng xa
Nhiều đồi núi cheo leo
Cây với rừng rườm rà
Đường Vạn Xuyên, đường cổ Lũy
Duyên núi sông vẫn như thắm nhòa

Đò vạn lý, Đò ải quan,
Đò rừng lá nước trong bao cá lội từng đàn
Thành Cổ Loa, Đền Vạn Kiếp,
Bao tháng năm vẫn chưa xóa nhòa.

Tiếng núi non lưu luyến tấc lòng bao nghìn năm
Tiếng gió cồn như tiếng trống dồn buổi khuya vắng
Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng

Đồi lan, đồi quế rắc kho hương nồng
Rừng sao đua đòi rừng trắc
Lo che ánh lửa vầng dương tiếp đưa bóng chàng

Đường cao đường thấp khắp khe chân chàng
Nhìn qua con đường mòn cũ
Quanh co mấy buổi tà dương mới mong tới làng.

Nhớ cố hương sao tiếng tấc lòng máu dồn chân
Vết bước đi trên phím đá mòn còn in dấu
Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đỉnh trong làng
Nguồn sử sanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang dậy trong lòng.
Tái bút :

Nhớ lại những giọng Hoàng Oanh, nõn nà thùy mị, rồi mới đây giọng Mai Hương, đơn chuyên thẳng tắp sau những thổn thức của Thái Thanh trong các kỳ diễn lại Ai Xuôi Vạn Lý. Phải kể nhiều về giọng Long Xuyên Tinh Nghệ của Phạm Bá Phước ( đã khuất) của Thanh Hùng và nhất là giọng Duy Khánh thiết tha chải chuốt và mới đây giọng Hoài Trung diễn kể Người Chinh Phu về còn cảm tình gió Khơi Dĩ Vãng. Nhớ PH qua sự nín lặng lâu dài chỉ vì bất tiện chứ không mảy may gì khác.

Mong Trời Phật giúp con người khả ái ấy giữ mãi được sức khỏe và tin tưởng về Mai Hậu. NB sẵn Noel, Nouvel An và tết mậu Thìn sắp tới xin chúc Phương Hương và gia đình toàn vẹn ở biệt thự Khoai Lang được tràn trề vui mừng sức khỏe và các cụ bà được sống lâu trăm tuổi để chờ ngày về thăm Bến Tre thân mến trong niềm vui an hòa của những năm xưa.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Thương một người

Thương một người - Sáng tác Trịnh Công Sơn - Tiếng hát Thanh Thúy

o0o

Thương ai về ngõ tối
Sương rơi ướt đôi môi
Thương ai buồn kiếp đời
Lạnh lùng ánh sao rơi
Thương ai về ngõ tối
Bao nhiêu lá rơi rơi
Thương ai cười không nói
ngập ngừng lá hôn vai

Thương nụ cười
Và mái tóc buông lơi
Mùa thu úa trên môi
Từng đêm qua ngõ tối
Bàn chân âm thầm nói
Lặng nghe gió đêm nay
Ngại ai vuốt đôi vai
Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi

Thương ai về xóm vắng
Đêm nay thiếu ánh trăng
Đôi vai gầy ướt mềm
Người lạnh lắm hay không
Thương ai mầu áo trắng
Trông như ánh sao băng
Thương ai cười trong nắng
Ngại ngùng áng mây bay ...

oOo

Thương nụ cười
Và mái tóc buông lơi
Mùa thu úa trên môi
Từng đêm qua ngõ tối
Bàn chân âm thầm nói
Lặng nghe gió đêm nay
Ngại ai vuốt đôi vai
Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi

Thương ai về xóm vắng
Đêm nay thiếu ánh trăng
Đôi vai gầy ướt mềm
Người lạnh lắm hay không
Thương ai mầu áo trắng
Trông như ánh sao băng
Thương ai cười trong nắng
Ngại ngùng áng mây bay ...
Ngại ngùng áng mây bay ...

o0o

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Vĩnh biệt ca sĩ Giang Tử

Mới đọc một tin buồn: ca sĩ Giang Tử mới qua đời ở Texas, thọ 70 tuổi. Mới hôm qua tôi xem một video kỉ niệm 20 năm sân khấu của Nguyễn Ngọc Ngạn và nghe Giang Tử ca một bài rất ấn tượng. Và, hôm nọ tôi xem một chương trình ca nhạc Thuý Nga thấy có Giang Tử ca bài "Chuyến đi về sáng", và nghe Nguyễn Ngọc Ngạn nói anh ấy mới vừa trị dứt bệnh ung thư vòm họng, và mừng cho anh thoát nạn. Vậy mà ai ngờ hôm nay nghe tin anh đã đi về cõi vĩnh hằng! Mới hôm kia nghe tin Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từ trần, và ngay là Ca sĩ Giang Tử. Thế là thêm một nghệ sĩ trước 1975 giã từ chúng ta.

Tôi không quen Giang Tử, nhưng biết đến tiếng hát của anh qua những ca khúc "mùi" từ những năm trước 1975. Thời đó, Giang Tử nổi tiếng lắm, nhất là đi đâu cũng nghe bài "Căn nhà màu tím" anh song ca cùng Ca sĩ Giáng Thu. Dĩ nhiên, anh không chỉ nổi tiếng với ca khúc đó, mà còn thành công với nhiều ca khúc khác, như Hàn Mặc Tử, Bông cỏ mây, Qua ngõ nhà em, Qua cơn mê, Hoa nở về đêm, Chuyến đi về sáng, v.v. Đó là những ca khúc một thời làm nên tên tuổi Giang Tử, và chính anh cũng góp phần làm cho những ca khúc đó bất tử với thời gian.

Theo tôi biết, anh xuất thân là một ca sĩ "nhạc tiền chiến", nhưng chẳng hiểu vì lí do nào mà sau này anh chuyển sang thể loại nhạc mà người ta hay gọi là "nhạc sến" (riêng tôi thì không cho nhạc đó là sến). Giọng ca anh có lẽ phù hợp với loại nhạc này, nhất là dòng nhạc của Trúc Phương, Hoài Linh và Mạnh Phát, những dòng nhạc mà lời ca mượt mà và đậm chất thơ. Anh có một giọng ca rất đàn ông, và khi xuống những nốt nhạc thấp, giọng anh trở nên tình cảm. Thử nghe bài "Thành phố sau lưng" khi anh xuống giọng câu "Phần ba tuổi đời hoang phế sau lưng" hay "Hoả châu sáng tỏ những khuôn mặt người yêu phố thị." Hình như càng già giọng ca của anh càng điêu luyện và càng hay. Tôi vẫn không hết ngạc nhiên khi thấy một ông già 70 tuổi ca bài "Kẻ ở miền xa" cứ như là một thanh niên 25 tuổi thời trước 1975!

Giang Tử, tên thật là Nguyễn Văn Giang, nguyên quán Hải Phòng và di cư vào Nam năm 1954. Như vậy anh chắc là "Bắc kì 54". Anh là bạn thân của Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Theo Giang Tử, chính Nguyễn Ngọc Ngạn đặt cho anh cái nghệ danh "Giang Tử" vì tính giang hồ lãng tử của anh lúc còn trẻ. Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn kể rằng Giang Tử rất mê ca hát, cứ mỗi khi Giang Tử phóng xe đến nhà chơi, anh thường cầm guitar ca hát nghêu ngao. Chính vì thế mà trong show kỉ niệm 20 năm sân khấu, Nguyễn Ngọc Ngạn đã mời người bạn già ca bài "Kẻ ở miền xa". Sau này tôi thấy Giang Tử xuất hiện vài lần trên các show nhạc của Thuý Nga Paris By Night và vài chương trình khác. Lần nào anh cũng đem đến cho khán giả những ca khúc hoài niệm.

Giang Tử cho biết anh theo học nhạc với Nhạc sĩ Y Vân. (Y Vân là tác giả ca khúc "Lòng mẹ" nổi tiếng, và bài "60 năm cuộc đời" và sau này qua đời năm 60 tuổi). Anh cho biết anh khởi sự đi hát từ năm 12 tuổi (tức 1968). Sau 1975, anh vẫn cộng tác với các đoàn văn công, và tìm đường vượt biên hoài nhưng không thoát. Mãi đến năm 2010 anh mới đi định cư bên Mĩ theo diện con gái làm bảo lãnh. Khi sang Mĩ, anh lập tức được nhiều trung tâm mời cộng tác, và khán giả vẫn nhớ & ủng hộ anh. Những ca sĩ kẹt lại ở VN sau 1975 và sau này được đi định cư ở nước ngoài đều được chào đón như thế dù tuổi đời của họ có khi chồng chất. Thú thật, tôi cũng là một trong những khán giả đó, tức là nhóm khán giả hoài niệm quá khứ và những giọng ca mà tôi cho là "vàng".

Thời đó (trước 1975) mỗi ca sĩ có một phong cách và giọng hát riêng, không giống ai. Khi cất tiếng hát, không cần nhìn hình ảnh, người nghe cũng biết đó là Giang Tử hay Chế Linh hay Thanh Phong hay Phương Đại, v.v. Không ai giống ai, và không thể lầm được. Còn ngày nay thì thú thật tôi không phân biệt được ai là ai, vì có khi họ bắt chước giọng hát người khác (và họ tự hào như thế!) Lại còn có những nghệ danh trùng hợp nữa, làm cho người nghe có khi lẫn lộn. Hôm nọ tôi nghe nói đến ca sĩ Thanh Thuý, tưởng là Thanh Thuý ngày xưa, nhưng không phải, hoá ra là Thanh Thuý ngày nay, hoàn toàn khác.

Tôi vẫn xem văn nghệ (tức là văn học và nghệ thuật) thời 67-75 là thời vàng son của Việt Nam (không phải chỉ miền Nam). Đó là thời của những ngôi sao sáng chói trong nhạc, như Trịnh Công Sơn, Ngô Thuỵ Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Y Vân, Lam Phương, v.v. và những giọng ca sẽ không có người thay thế được như Khánh Ly, Lệ Thu, Lê Uyên, Duy Trác, Giang Tử, Thanh Thuý, Thanh Tuyền, Phương Dung, v.v. Trong số những người vừa kể, có người đã giã từ chúng ta, nhưng nhiều người thì hoặc bệnh tật hoặc không hoạt động văn nghệ nữa. Nay, Giang Tử lại ra đi, dần dần những người thuộc thế hệ tôi mất đi những giọng ca hoài niệm. Nghệ sĩ có thể từ giã cõi đời nhưng tác phẩm của họ vẫn còn ở lại với chúng ta và làm cho chúng ta có những giây phút thăng hoa. Giang Tử là một giọng ca như thế. Nên sau này những lúc cần nhớ về dĩ vãng, tôi vẫn có thể nghe Căn nhà màu tím, Kẻ ở miền xa, Chuyến đi về sáng, và Hoa nở về đêm qua sự chuyển tải của một giọng ca giang hồ lãng tử.

----
Kẻ ở miền xa (sáng tác: Trúc Phương, trình bày: Giang Tử)
https://www.youtube.com/watch?v=K1q3bcm7BFY

Hoa nở về đêm (sáng tác: Mạnh Phát, trình bày: Giang Tử)
https://www.youtube.com/watch?v=6AziGuXo6yw

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

Ướt mi - Trịnh Công Sơn

Ướt Mi là ca khúc do Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1958, được Nhà xuất bản An Phú ấn hành tại Sài Gòn năm 1959. Có tài liệu cho rằng đây là tác phẩm đầu tay của Trịnh Công Sơn, nhưng theo lời nhạc sỹ kể lại thì trước đó ông đã sáng tác một số bài như Sương đêm, Chơi vơi

"Rất nhiều bài hát đã được viết trước bài Ướt mi nhưng riêng bài Ướt mi thì tồn tại như một số phận của nó và của tôi" (Trịnh Công Sơn, Người hát rong qua nhiều thế hệ, Nhà Xuất Bản Trẻ, 2003, tr.16.).
Do đó, có thể coi đây là tác phẩm đầu tiên của Trịnh Công Sơn được công bố chính thức.

Hoàn cảnh sáng tác
Lúc trọ học tại Sài Gòn, tình cờ, Trịnh Công Sơn được nghe tiếng hát của một ca sĩ chỉ mới 16 tuổi, người Huế: Thanh Thúy, người ca sĩ có dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài. Giọng ca trầm buồn và phong cách trình diễn của Thanh Thúy đã gây cho Trịnh Công Sơn một ấn tượng đặc biệt. Từ đó, ông ngưỡng mộ giọng hát này và theo lời ông thuật lại: "...đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng...."

Một buổi tối, Trịnh Công Sơn cùng một vài người bạn đến Mỹ Cảnh, một nhà hàng nổi tiếng của Sài Gòn, để nghe Thanh Thúy hát. Ngay trong đêm nhạc đó, Trịnh Công Sơn đã viết một mảnh giấy nhỏ đề nghị Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Khi hát theo đề nghị đó, do có tâm sự riêng (mất mẹ), [theo tâm sự của Ca Sĩ Thanh Thúy trên DVD ASIA 75 năm âm nhạc Việt Nam thì lúc này mẹ cô đang bệnh chứ chưa phải mất mẹ, mẹ cô mất 1 năm sau] cô đã không kiềm chế được cảm xúc, cứ để cho tình cảm tràn đầy, cô vừa hát vừa khóc.

"Phải có một nỗi tuyệt vọng nào đó khởi đầu để tôi không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời làm của cải riêng tư. Eva ăn trái cấm và sự sống thành hình. Tôi e cũng đã từng nuốt những giọt nước mắt để biết tận tình nói về những giọt nước mắt kia"
(Trịnh Công Sơn, Sđd, Nhà Xuất Bản Trẻ, 2003, tr.16)
Sau đó, Trịnh Công Sơn đã sáng tác ca khúc Ướt mi. Theo lời thuật của nhạc sĩ: "..."Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Đêm đó, tôi nôn nao không ngủ được... Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời: "Thưa quý vị ! Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cảm ơn". Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát...."[1]

Tiền bản quyền của ca khúc Ướt mi mà Nhà xuất bản An Phú đã trả cho nhạc sĩ là 5.000 đồng (Theo thời giá năm 1956, một lượng vàng có giá khoảng hơn 1.000 đồng)

Một năm sau, năm 1959, một lần nữa, Trịnh Công Sơn viết một bài khác, cũng để tặng người đã hát bài hát đầu tiên của mình. Bóng dáng người nữ ca sĩ nhỏ nhắn đêm đêm sau xuất hát hấp tấp bước vào ngõ tối trên đường Cao Thắng trở về nhà với mẹ. Đó là ca khúc Thương một người như để chia sẻ trên đôi vai cô ca sĩ trẻ sớm gánh chịu nỗi nhọc nhằn.

Ngoài hiên mưa rơi rơi,
Lòng ai như chơi vơi
Người ơi nước mắt hoen mi rồi
Đừng khóc trong đêm mưa,
Đừng than trong câu ca...

Buồn ơi trong đêm thâu,
Ôm ấp giùm ta nhé
Người em thương mưa ngâu
Hay khóc sầu nhân thế
Tình ta đêm về,
Có ấm từng cơn mơ em chưa...

Mưa lạnh lùng rơi rớt giữa đêm về
Nghe não nề...
Mưa kéo dài lê thê những đêm khuya
Lạnh ướt mi
Ai còn buồn khi lá rớt trong một cuối đông....

Ngoài hiên mưa rơi rơi,
Buồn dâng lên đôi môi
Buồn đau hoen ướt mi ai rồi
Buồn đi trong đêm khuya
Buồn rơi theo đêm mưa

Còn mưa trong đêm nay
Lòng em buồn biết mấy
Trời sao chưa thôi mưa
Ôi mắt người em ấy
Từ đây thôi mờ
Nước mắt buồn mi em ngây thơ...

Thái Thanh tiếng hát lên trời

Cách đây hơn nửa thế kỷ, một giọng hát nữ vút cao đã làm cho làng âm nhạc Việt Nam bất ngờ xao động. Người ta bị cuốn vào ma lực của giọng hát thánh thót, khi thì dịu dàng lâng lâng, khi thì ngân nga, tê buốt.

Thanh âm từ trong cổ họng người phụ nữ ấy cất lên xoắn xít với ca từ, réo rắt mà liêu trai, có thể xoáy vào tâm can bất kỳ người nào vô tình hay hữu ý để lời ca lọt vào tâm tưởng. Tiếng hát ám ảnh đầy mê hoặc ấy, không ai khác chính là Thái Thanh – “người không cần làm thơ, cũng đã là thi sĩ”.

Và cho đến tận bây giờ, khi nốt ngân huyền ảo của Thái Thanh chỉ còn vang lên qua những bản thu âm nhuốm màu hoài cổ, thì thứ thanh âm đắm đuối mà mãnh liệt kia, vẫn đủ thấm sâu vào tâm hồn những người đã từng đi qua một thời máu lửa.

Thái Thanh sinh năm 1934, tên thật là Phạm Thị Băng Thanh. Bà là con út của nghệ sĩ chuyên về nhạc cụ dân tộc Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Mới 13 tuổi đầu, cô bé tóc còn hoe vàng đầu ngọn đã rong ruổi theo chân quân đoàn cảm tử Trung đoàn 9, chợ Sim, Khu III, Khu IV để vút cao giọng hát kêu gọi tình yêu dân tộc, sự oán thù quân ngoại xâm cướp nước… Và khi những người lính gục đầu lên báng súng, sụp mũ quên đời cũng là lúc tiếng hát Thái Thanh dịu ngọt ru êm, hay bùng lên bi tráng.

Danh phận của Thái Thanh như được báo trước khi bà sinh ra trong một gia đình mà tất cả người thân đều là những tên tuổi gạo cội trong làng âm nhạc Việt Nam. Cha bà là nghệ sĩ Phạm Đình Phụng, hai người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm cũng trở thành nhạc sĩ. Phạm Đình Sỹ cưới vợ là nữ diễn viên kịch Kiều Hạnh sinh ra nữ ca sĩ Mai Hương.

Nhạc sĩ Phạm Đình Viêm còn có nghệ danh khác là Hoài Trung. Mẹ của bà sinh được 3 người con, chị đầu của Thái Thanh là bà Phạm Thị Quang Thái, sau thành ca sĩ lấy nghệ danh Thái Hằng và trở thành vợ của nhạc sĩ Phạm Duy. Anh trai kế là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, thời còn làm ca sĩ lấy nghệ danh là Hoài Bắc.

Vào những năm cuối thập niên 60 và đầu 70 thế kỷ trước, phong trào ca nhạc tại Sài Gòn đang ảnh hưởng nặng lối sống hippi, các ca sĩ trẻ đua nhau hát những ca khúc sôi động của dòng nhạc rock hoặc country. Nhóm ca Thăng Long (Thái Thanh, Hoài Bắc, Hoài Trung) với dòng nhạc trữ tình dân tộc tưởng chừng như lọt thỏm trong tiết tấu rộn ràng của những giai điệu châu Mỹ - Latin hợp thời. Nhưng rồi, chính Thái Thanh và nhóm ca Thăng Long đã đưa những Buồn tàn thu - Văn Cao, Cho nhau - Phạm Duy, Con thuyền không bến - Đặng Thế Phong… trở thành thứ âm nhạc thời thượng

Do ảnh hưởng từ ngón nghề nhạc cụ dân tộc của cha, Thái Thanh đã tự luyện âm theo lối chầu văn, hát chèo. Vì thế tiếng hát của bà chắt lọc tinh túy từ cách luyến láy của các làn điệu dân tộc, pha trộn sắc thái biểu cảm của dòng nhạc bác học phương Tây. Bởi vậy âm vực trong lời ca của Thái Thanh trở thành độc nhất vô nhị. Từ cách luyến láy da diết tình quê, đến giọng ngân du dương sang trọng đã đưa Thái Thanh bước đến đỉnh cao danh vọng.

Người ta đổ xô đi nghe Thái Thanh và nhóm Thăng Long hát tình ca quê hương như một cách để thể hiện đẳng cấp và trí tuệ. Không những thế, giọng hát của bà còn len lỏi vào những vùng quê, ru êm những vất vả cần lao của người dân nghèo, khốn khó. Những ngày ấy, nhóm Thăng Long trụ luôn tại bar Đêm Màu Hồng – một trong những tụ điểm âm nhạc lớn nhất Sài Gòn thời bấy giờ.

Sau khi đã thành danh, Thái Thanh vẫn thường trìu mến kể về những người thầy, người anh đã dìu dắt bà. Có lần bà kể: "Anh Phạm Duy hay ca cẩm với tôi: Cô này thay lời nhạc của anh bằng những từ rất sướng. Còn anh Phạm Đình Chương thì dạy    tôi hát từ nhỏ, có lần cười cười mắng yêu: Cái cô này, nốt nhạc chưa vào đầu đã thành tiếng hát của cô rồi".

Nốt nhạc chưa vào đầu, Thái Thanh đã ngân nga thành tiếng hát, nên thính giả bị thứ âm nhạc của bà vấn vít vào hồn, chạm vào sâu thẳm của trái tim trước khi kịp nhận ra đó còn là tầng nấc của kỹ thuật xướng âm điêu luyện.

Giọng hát của Thái Thanh gắn liền với đạn lạc, mưa bom, vương vít theo tiếng súng, cuồn cuộn trong khói lửa tan thương. Người ta nghe Thái Thanh trong mọi hoàn cảnh, vui cũng như buồn, tràn trề hy vọng lẫn sâu thẳm niềm đau, trên những nẻo đường tị nạn hay chốn xa hoa rượu đèn ngây ngất. Chính vì thế, tiếng hát Thái Thanh không đơn thuần chỉ là một chất liệu giải trí, mà nó còn đủ sức khơi gợi lại một phần đời.

“Tiếng hát lên trời”

Báo chí thời bấy giờ không tiếc lời ca ngợi Thái Thanh, người ta lấy câu thơ đầy chất liêu trai của Hoàng Trúc Ly là: "Từ em tiếng hát lên trời – Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh" để mô tả cho hình ảnh Thái Thanh khi đứng trên sân khấu.

Mặc dù Hoàng Trúc Ly sinh thời không chủ định nhắm vào một danh ca nào, chỉ gợi lên không khí các phòng trà của Sài Gòn cũ, nơi mà ca nhi trở thành trung tâm của cảm xúc, nhưng thời ấy người ta lại mặc định "tiếng hát lên trời" là chỉ có Thái Thanh. Đến nỗi, có người còn ngộ nhận Hoàng Trúc Ly chỉ viết về Thái Thanh.

Dù Thái Thanh tóc ngắn, và cũng không có thói quen “tay xao dòng tóc” trên sân khấu bao giờ. Từ đó, Thái Thanh "chết danh" với mấy chữ "tiếng hát lên trời". Mà thật vậy, "tiếng hát lên trời" dùng để chỉ Thái Thanh không còn gì là vẹn tròn hơn nữa.

Lại nói có một thời, người miền Nam còn đánh giá trí tuệ người khác bằng "đơn vị Thái Thanh". Đại loại như, nếu yêu thích và cảm thụ được giọng hát của Thái Thanh thì được đánh giá là dân... trí thức. Nếu thuộc dạng nghiện nặng, am tường thì thuộc về nhóm ... trí thức bác học.

Những người "thích thì nghe, không thì thôi, sao cũng được" thuộc hàng tầm tầm bậc trung. Còn ai đó vô ý hoặc cố tình thốt lên: "Nghe không vô, chẳng muốn nghe" thì ngay lập tức bị nhiếc mắng theo kiểu: "... phải đày đi quân dịch ra vùng 1 chết cho đỡ phí đời đi”. Thậm chí, người ta còn biểu đạt cảm xúc khi đọc thơ bằng "đơn vị Thái Thanh". Kiểu như: "Đúng là một tuyệt phẩm như... tiếng hát Thái Thanh" hay "Hình như chỉ sâu sắc cỡ như tiếng ca K.L, M.L.H chứ chưa thể đánh giá như Thái Thanh được".

Trong phiếu đăng ký tuyển dụng nhân sự của một vài công ty ở Sài Gòn thời đó có ghi câu hỏi: Bạn có thích (rất thích hoặc không thích) giọng ca Thái Thanh. Nếu người xin việc điền vào phiếu chữ “Không thích”, nhà tuyển dụng sẽ đánh rớt với lý do ... “trí tuệ kém”.

Chỉ có nghe Thái Thanh mới có thể cảm thụ được tất cả những gì làm nên sự ưu đãi trong ngôn từ của cả một thế hệ dành cho bà. Vậy vì lẽ gì giọng hát Thái Thanh lại trở thành thứ không thể tan biến theo thời gian? Một phần cũng vì hoàn cảnh lịch sử.

Không phải vì Thái Thanh hát những bài dân ca vốn đã là hồn dân tộc, mà Thái Thanh hát dân ca xuất phát tự lòng người, tự nỗi đau của chính một con dân trong hoàn cảnh nước nhà máu đổ. Nên bài hát tình ca cũng trở thành dân ca, trở thành tiếng nói rất riêng vừa dịu dàng vừa bi tráng của một đất nước mang lịch sử oai hùng.
Báo giới đã từng ví tiếng hát Thái Thanh như thơ ngân giữa nhạc: "Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định : bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát "long lanh đáy nước" trong thơ Nguyễn Du, "lơ lửng trời xanh ngắt" trong Vòm thu Yên Ðổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay "đẫm sương trăng, ngừng lưng trời" trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát "cao như thông vút, buồn như liễu" đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ".

Sức mạnh của thơ là ngôn từ, nhưng một Thái Thanh đã khiến thanh âm cũng gợi tưởng về những con chữ đang trải dài trước mặt người đang nhắm mắt để lặng nghe. Nên người ta ưu ái Thái Thanh, ví hình ảnh bà đang hát như ca nhi đứng giữa một bầu trời thơ. Nhạc sĩ có thể là một thi nhân với những ca từ diễm lệ, nhưng hiếm có ca sĩ nào nắm được nghệ thuật truyền cảm để chính bài hát trở thành một bài thơ không chỉ lay động lòng người bằng sức mạnh của ngôn từ, của thị giác mà mạnh mẽ hơn là bằng thứ thanh âm sẵn sàng vọng động đến tận đáy tâm hồn...,

Thái Thanh đã làm được. Và giọng ca Thái Thanh đối với một thế hệ luôn là người "chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ".

Thanh Thúy người tình của cả một thế hệ

" Những giọt nước mắt ấy như một cơn mưa nhỏ trên tâm hồn mỏng mảnh của tôi đã khiến tôi phải lùi xa hơn nữa về một cõi đời nào còn xa xôi hơn đã từng làm tôi nhỏ lệ

Phải có một nỗi tuyệt vọng nào đó khởi đầu để tôi không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời làm của cải riêng tư. Eva ăn trái cấm và sự sống thành hình. Tôi e cũng đã từng nuốt những giọt nước mắt để biết tận tình nói về những giọt nước mắt kia ".

Chàng thư sinh gầy gò lang bạt vào Sài Gòn cuối thập niên 50 – Trịnh Công Sơn khi lần đầu nghe Thanh Thúy hát “Giọt mưa thu” của Đặng Thế Phong, và khóc… đã có câu nhận xét như thế. Và tôi cũng xin mượn câu nói đó của nhạc sĩ họ Trịnh để bắt đầu bài tản mạn ngắn về Thanh Thúy – người tình trong mộng của cả một thế hệ văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ… Sài Gòn xa cũ.

***

Thanh Thúy chưa bao giờ được xem như là hồng nhan có sắc đẹp khuynh quốc khuynh thành. Xét về lĩnh vực nghệ thuật, tiếng hát của cô không được đánh giá cao như những nữ danh ca Khánh Ly, Lệ Thu, Khánh Hà… Tuy nhiên, nếu nói về người phụ nữ được yêu mến, được hâm mộ và giành được nhiều tình cảm yêu thương nhất vào ngày đó thì phải xếp Thanh Thúy lên đầu.

Thanh Thúy bắt đầu đi hát từ năm 15 tuổi (1959) để kiếm tiền nuôi người mẹ đang bị bệnh nặng. Nơi cô xuất hiện đầu tiên là phòng trà Đức Quỳnh (vào cuối năm 1974 đổi tên thành Văn Hoa, hiện tại là rạp Thăng Long nằm ở đường Cao Thắng). Sau đó, cô tiếp tục trình diễn ở các phòng trà như: Văn Cảnh, Arc en ciel, Tự Do, Anh Vũ, Hòa Bình…

Cách phát âm của Thanh Thúy không chuẩn, tôi phải nói thế. Và đó cũng là đặc điểm chung của những giọng hát “rặc” miền Nam. Đối với phần lớn khán giả nghe không quen, thì ắt sẽ thấy khó chịu. Tuy nhiên, không thể không thừa nhận những giọng hát như thế dễ gây cho khán giả cảm giác rất thật, như những lời ca đó xuất phát từ tâm khảm của họ, không luyến láy, không kĩ thuật cao siêu. Đơn thuần là chân chất. Có thể tìm thử bài “Chiều mưa biên giới” qua giọng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch, “Giọt mưa thu” với giọng hát nghiệp dư của kĩ sư địa chất Võ Anh Tuấn để cảm nhận rõ hơn về ý này.

Chính cái giọng hát rất u hoài, buồn man mác, nghẹn ngào của Thanh Thúy, kết hợp với hình ảnh một thục nữ trong tà áo dài e lệ, khi hát thì một tay vịn lấy dòng tóc đen đang buông lơi trên đôi vai gầy, một tay nâng chiếc micro, đã tạo nên một Thanh Thúy làm điên đảo biết bao người.

Ảnh Thanh Thúy

***

Đầu thập niên 60, ngọn bút đầu đàn của nhóm Sáng Tạo & Kịch Ảnh là nhà văn Mai Thảo đã gọi Thanh Thúy là “Tiếng hát lúc không giờ”. Nguyên Sa đã có lần hỏi Mai Thảo:
- Tại sao “Tiếng hát lúc không giờ?”
Mai Thảo trả lời bằng những tiếng ngắn: Vì muộn…
Rồi ông tiếp: - Là muộn màng…
- Là về khuya…
- Tôi vẫn thấy một con chim nhạn bay trong giòng sông sương mù…
- …
- Chậm và khuya…
- …
- Công phu… Kỳ lạ…

Ngoài ra, Thanh Thúy còn được gọi là “Tiếng hát khói sương” (Lâm Tường Dũ). Họa sĩ Vũ Hối cũng đã từng làm thơ để nói về tiếng hát Thanh Thúy:

Liêu trai tiếng hát khói sương
Nghẹn ngào nhung nhớ giòng Hương quê mình

Tuy nhiên, danh hiệu đi liền với tên tuổi Thanh Thúy nhất có lẽ đến từ ông Nguyễn Văn Trung, giáo sư Triết Đại Học Văn Khoa thời đó, trong chuyên đề “Ảo ảnh Thanh Thúy” đã gọi giọng hát của cô là “Tiếng hát liêu trai“. Và từ đó, danh hiệu đó đã đi cùng với cô.

***

“Ướt Mi” không phải là bản nhạc đầu tay của Trịnh, nhưng chính bản thân tác giả đã từng nói

" Rất nhiều bài hát đã được viết trước bài Ướt mi nhưng riêng bài Ướt mi thì tồn tại như một số phận của nó và của tôi

Hãy cùng nghe Trịnh Công Sơn tâm sự

Thuở còn trọ học ở Sài Gòn, năm đó tôi mười bảy tuổi – Sơn kể – đêm nào tôi cũng lò dò đến phòng trà ca nhạc để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn. Vì tôi nhỏ tuổi hơn, lại nhiều mặc cảm nghèo và vô danh. Trong khi đó Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập.

Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước là phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc “Ướt Mi” đầu tiên trong đời ".

“Ướt Mi” là một nhạc phẩm hay kỳ lạ, buồn thương cảm đến não nề với những câu như “đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca“. Sau này, nhạc sĩ họ Trịnh còn viết bài “Thương một người” với hình ảnh “Thương ai về ngõ tối, sương rơi kín đôi vai…” để dành tặng Thanh Thúy.

Mối tình đơn phương của chàng nhạc sĩ trẻ tuổi, gọi là chút thoáng tình cảm đầu đời cũng được, gọi là tình say đắm nhưng vô vọng cũng được, có lẽ chỉ Trịnh là hiểu rõ nhất. Thôi thì hãy chỉ nên nhớ về nó như một bài hát đẹp, một câu chuyện đẹp, thế thôi.

***

Ngoài Trịnh Công Sơn ra, còn có một bài nhạc viết tặng Thanh Thúy cũng rất nổi tiếng: đó là bài “Tiếng hát về khuya” của nhạc sĩ Tôn Thất Lập. Tuy nhiên, trong số những văn nghệ sĩ hâm mộ Thanh Thúy, nổi tiếng nhất phải kể đến Trúc Phương.

Trúc Phương yêu Thanh Thúy, yêu bằng một tình yêu trọn vẹn, nhưng có lẽ hai người chỉ có duyên mà không có phận. Rất nhiều những tác phẩm để đời của Trúc Phương như Chuyện chúng mình, Bóng nhỏ đường chiều, Tàu đêm năm cũ… đều mang hình ảnh của Thanh Thúy, hay đúng hơn là về một mối tình đau thương và tuyệt vọng mà nhạc sĩ tài ba gởi gắm vào. Lại trớ trêu thay, chính “Tiếng hát liêu trai” đã góp phần làm những ca khúc của Trúc Phương bay thật cao, bay thật xa.

Thanh Thúy lên xe hoa về theo người khác, Trúc Phương vò võ nhớ thương. Thanh Thúy xa quê sống cuộc sống lưu vong, Trúc Phương ở lại quê nhà cùng bao hoài niệm.

Nhạc sĩ Trúc Phương đến trước khi chết trong nghèo khổ, sau một quãng thời gian đối mặt với căn bệnh ngặt nghèo, đã lìa bỏ cõi đời vào một ngày tháng 9 hơn 15 năm trước, vẫn luôn nhớ luôn mong hình bóng trong tâm tưởng đấy. Trong ca khúc “Mắt chân dung để lại”. dòng nhạc cuối đời của Trúc Phương vẫn ẩn hiện bóng người xưa:

Gửi người xưa bỏ ta để đôi mắt lại, giọt vắn giọt dài mãi đọng vũng bùn nhỏ, ta và em trót đã thiên thu nhầm lỡ, khóc mình khóc người, đỏ hoe suốt đời

***

Tôi nghe Thanh Thúy, không phải vì đó là người từng làm điên đảo biết bao thi nhân, nhạc sĩ. Thật ra, tôi nghe Thanh Thúy trước, một thời gian lâu sau mới biết rằng Ướt Mi và Thương Một Người của Trịnh, cùng hàng loạt ca khúc của Trúc Phương là dành tặng cho cô. Bỏ qua những giai thoại về cô, tôi thật sự yêu cái giọng hát ấy – một giọng hát đặc biệt và rất riêng, mà có lẽ ngoài cô ra không còn ca sĩ nào khác có được. Tôi xin mượn bài thơ của Hoàng Trúc Ly khi nói về giọng hát của cô để kết thúc bài này, vì những tưởng, khó mà có thể tìm được những ngôn từ mô tả nào thích hợp hơn:

Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô