Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Danh Ca Minh Trang


Như một định mệnh, cô bé Nguyễn thị Ngọc Trâm chào đời ngày 18 tháng 8 năm 1921 tại một
nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự, thành phố Huế. Hai mươi lăm năm sau, một khúc hát
bất hủ mang tên "Đêm Tàn Bến Ngự" ra đời, được viết nên bởi một nhạc sĩ tài hoa, đã gắn
liền với tên cô , ngày nay đã trở thành một danh ca mang tên Minh Trang. Tác giả bản nhạc
đó là Dương Thiệu Tước, cũng là người chồng sau này của cô, cả hai đã tạo nên một gia đình
âm nhạc và để lại cho thế gian những tình khúc bất tử.
Ở Huế vào cuối thế kỷ 19, người ta biết nhiều tới Mỹ Lương Công Chúa hay Bà Chúa Nhứt, là
chị ruột của Vua Thành Thái. Bà là người giòng giõi nhưng không câu nệ, tính rất nghệ sĩ.
Trong nhà bà Chúa có nuôi hẳn mộät ban hát tới mấy chục người và có riêng một ban ca Huế.
Vị công chúa đóù là bà ngoại của ca sĩ Minh Trang, do đó khi lớn lên, vì thân phụ là cụ
Nguyễn Hy nhiều khi phải đáo nhậm những nhiệm sở xa, bà Minh Trang có dịp được gần gũi
với bên ngoại. Nhờ những âm thanh ca Huế thấm nhuần vào tâm hồn trong tuổi ấu thơ, mới
bảy tám tuôåi, bà đã thuộc những bài cổ nhạc, ca Huế như những khúc Nam Ai, Nam Bình,
Kim Tiền, Lưu Thủy...Tuy nói giọng Quảng vì thân phụ bà là gốc người Quảng Ngãi, chất Huế
trong người bà đã khiến cho bà hát bản "Đêm Tàn Bến Ngự" một cách dễ dàng như chính tác
giả đã viết bài này ra để dành riêng cho cho bà, người ca sĩ, đó là Minh Trang.
Lớn lên trong khung cảnh của một danh gia vọng tộc một thời ở đất thần kinh, cũng như
những gia đình khác có lẽ tân nhạc vẫn còn là một điều gì mới mẻ, tuy vậy bà Minh Trang là
người sớm hấp thụ nền văn hóa tây phương. Lúc nhỏ bà theo học trường Jeanne d' Arc, một
trường giòng danh tiếng ở Huế và đã bắt đầu làm quen với những phím dương cầm từ đó.
Lên trung học, bà theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng 1941, thân phụ bà về nhậm chức tại
Bộ Lại (tức là bộ Nội Vụ) tại Huế, bà lại theo về học tại Lycée Khải Định. Tại đây bà gặp một
ông thầy dạy Việt Văn là ông Ưng Quả, cũng là vị "phụ giáo" của triều đình Huế (dạy thái tử
Bảo Long). Hai người, một thầy, một trò đã tỏ ra tâm đầu ý hợp và tiến đến hôn nhân. Tuy lúc
đó Thầy Ưng Quả là một người đàn ông góa vợ đã có hai con trai, nhưng cả hai gia đình đều
là những gia đình quyền quí ở Huế, thầy Ưng Quả là cháu nội của Tuy Lý Vương, bà Minh
Trang là cháu nội của Diên Lộc Quận Công, phải nói là rất "môn đăng hộ đối". Hai người sinh
hạ được một trai là Bửu Minh và một gái là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, (tức là ca sĩ
Quỳnh Giao). Bà dùng tên của hai người con ghép lại để làm nên cái tên âm nhạc cho mình.
Năm 1951, giáo sư Ưng Quả, lúc đó là Giám Đốc Nha Học Chính Trung Phần qua đời, bà
Minh Trang đem hai con vào Saigon, và kiếm được một việc làm tại Đài Phát Thanh Pháp Á
(France-Asie), vừa là xướng ngôn viên vừa làm biên tập tin tức bằng tiếng Pháp. Sự việc
Minh Trang trở thành ca sĩ cũng là chuyện tình cờ không tính trước, trong chương trình ca
nhạc của nhạc sĩ Đức Quỳnh, vì ca sĩ chính không đến đài hát được, bà phải miễn cưỡng
thay chỗ, và ca khúc duy nhất bà thuộc lúc ấy là "Đêm Đông" của NS Nguyễn Văn Thương.
Nhờ giọng hát thiên bẩm (trời cho)- theo bà nói- từ đó gần như bà trở thành một ca sĩ chuyên
nghiệp, ngoài chuyện bà là ca sĩ chính của Đài Pháp Á, về sau trở thành Đài Phát Thanh
Quốc Gia, bà Minh Trang còn đi hát "phụ diễn" trên sân khấu, một lối trình diễn rất thịnh hành
hồi ấy tại các rạp chớp bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.Tiếng hát của bà bay
ra Hà Nội và được các nhạc sĩ đương thời ngoài đó rất yêu mến, thường gởi bài vào cho bà
hát như các nhạc sĩ Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Giác, Thẩm
Oánh, Thiện Tơ... Trong một lần ra Hà Nội theo lời mời của Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu
Trí khi ông này tổ chức Hội Chợ, bà đã hát trong ban Việt Nhạc và gặp gỡ nhạc sĩ Dương
Thiệu Tước tại đây.
Hai người nghệ sĩ này, Minh Trang - Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Saigon và sau
đó sinh hạ được năm người con, một trai Dương Hồng Phong và bốn gái Vân Quỳnh, Vân
Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của Ông Bà đều
được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Ngày nay Quỳnh Giao, Vân Quỳnh đã trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm
tại QGAN và Bửu Minh du học Pháp năm 1961 nay là dương cầm thủ chính (đệ nhất vĩ cầm)
trong ban nhạc đại hòa tấu "Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz" của Đức Quốc.
Sau biến cố tháng 4-1975, các cô con gái đã lập gia đình đều đã ra đi, nhưng ông bà Dương
Thiệu Tước còn ở lại Việt Nam, lý do là con trai duy nhất của hai người, Dương Hồng Phong,
động viên năm 1972 đang bị kẹt tại Chu Lai và bị bắt làm tù binh. Với số lương 64 đồng một
tháng dành cho giáo sư Dương Thiệu Tước dạy lục huyền cầm cổ điển, hai ông bà phải sống
trong những điều kiện vô cùng chật vật. Bà Minh Trang kể lại suốt trong những ngày đen tối,
công việc của bà là ngồi lượm sạn và bông lúa để lo bữa cơm cho chồng con, trong khi đứa
con trai tù tội vẫn chưa về. Năm 1978 khi Dương Hồng Phong ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời
đất nước. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vì thường đau ốm nên không muốn đi. Bà Minh Trang
cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, và đi định cư tại Virginia. Ở đây bà làm nghề
"quality control" cho một hãng microfilm và ngay cả làm "baybysitter" trong một gia đình người
Pháp.
Năm 1986, bà theo con về cư ngụ tại Quận Cam vì bà đã chán cái cảnh cào tuyết những ngày
mùa đông ở Virginia, cũng là lúc bà bước vào tuổi hưu trí. Ở đây bà cảm thấy sức khỏe tốt
hơn, và vui với các cháu ngoại ở quanh quẩn trong vùng, tuy bà vẫn còn hai người con trai ở
xa, Bửu Minh tận Đức Quốc và Dương Hồng Phong ở New York.
Ngày nay bà Minh Trang sống trong một căn apartment dành cho người cao niên rất yên tĩnh.
Thú vui của bà là nghe nhạc và nhất là bà rất chịu khó theo dõi tin tức thời sự. Bà tâm sự rằng
ít khi bà nấu nướng, vì các con gái bà đều ở gần có bát canh cần nó cũng mang cho.
Thỉnh thoảng các con ghé lại chở mẹ đi thăm người quen hoặc ghé qua chợ mua một vài thứ
lặt vặt. Bà thích sống một mình như thế đã hơn sáu năm qua mà không cảm thấy cô đơn, vì
các con rất gần gũi với bà. Trong lúc ngồi tiếp chuyện tôi, bà trả lời điện thoại của những
người con gái gọi lại hai lần. Bà tâm sự, bây giờ con cái đều bận bịu công việc, khó có thể
quanh quẩn bên mình, ở căn cư xá này rất tiện, mỗi khi có ốm đau hay cần chuyện cấp cứu
bà chỉ kéo nhẹ đầu giây báo động, là có nhân viên y tế đến giúp ngay.
Trên bàn thờ nhỏ ở phòng khách là hình ảnh những người đã quá vãng, trên vách tường là
những hình ảnh của của người sống. Đó là thế giới của bà, thế giới của hồi tưởng, của kỷ
niệm hay thế giới ấm áp của con cháu đang vây quanh tuổi già của bà. Năm nay bà Minh
Trang đã tới tuổi 84, trông bà hãy còn tráng kiện, tóc phơ phơ bạc, trí nhớ còn rất minh mẫn.
Huế còn nhớ tới Minh Trang tên tuổi một thời, thính giả đài Pháp Á không quên tên người ca
sĩ này, cái tên Minh Trang hình như gắn liền với âm điệu của một làn dân ca Huế, nỉ non và
cũng ai oán trong "Đêm Tàn Bến Ngự" cũng như với cái tên Dương Thiệu Tước. Cuộc đời
sinh ra bà để chúng ta có những tình khúc dịu dàng, thơm tho như một khu vườn Huế những
đêm trăng, đó là "Ngọc Lan", là "Sóng Lòng"....

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 3: LỆ THU

Nữ ca sĩ rất nổi tiếng, một trong những giọng ca lớn của tân nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng cô là người trình bày rất thành công nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến… và nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.

Lệ Thu, một cái tên tiền định hát bằng nước mắt đau thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc, như một lời giới thiệu mở đầu … tèng teng teng…Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,… Rồi một buổi trưa hè nào đó bên nhà hàng xóm văng vẳng xa vắng Gọi Nắng trên vai em gầy đường xa áo bay,…Chỉ một mỹ từ duy nhất để diễn tả về Lệ Thu thôi “Đẹp”, Lệ Thu là một tiếng hát Đẹp. Thưởng thức tiếng hát Lệ Thu như là thuởng thức một Dung Nhan đẹp đẽ và rắn rỏi.
Ở Lệ Thu, cái đẹp còn ở lối phát âm tiếng Việt khi hát. Nghĩ đến Lệ Thu là mường tượng ngay ra được Vẻ đẹp của tiếng Việt, Nhẹ nhàng, Uyển chuyển và rất tròn vành rõ chữ
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 07 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả 8 người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.
Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy nghệ danh Lệ Thu, trong một cuộc phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu”. Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau cô quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing… Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.


Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau.
Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát. Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley.

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 2: KHÁNH LY

Nhắc đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, người ta nhớ ngay đến tiếng hát Khánh Ly. Nghe nhạc Trịnh với giọng ca của Khánh Ly để suy ngẫm về cuộc đời, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của âm nhạc, để thông cảm với một tâm hồn… quá hay, quá đẹp.

Ca sĩ Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Huế năm 1967
Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn đã đi liền với nhau như một định mệnh. Nhạc Trịnh Công Sơn là những bài tình ca cho đất nước, cho dân tộc, và cho tình yêu. Bằng tiếng hát Khánh Ly, và có lẽ chỉ bằng tiếng hát Khánh Ly, những bài hát của Trịnh Công Sơn đã thấm sâu vào tâm hồn mọi người Việt Nam. Ðã mấy chục năm trôi qua từ ngày cô bé Khánh Ly đi chân đất, hát trước hàng ngàn sinh viên Việt Nam và gây xúc động mạnh mẽ với một thứ âm nhạc lạ kỳ. Ngày nay, nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã trở thành một phần của tâm hồn người Việt chúng ta.

Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945 tại Hà Nội, cũng có khi cô lấy tên Phạm Thị Lệ Mai theo họ Phạm của người cha dượng. Năm 1954, Lệ Mai theo mẹ di cư vào miền Nam.
Khi còn ở Hà Nội, dù chưa tới 9 tuổi, Khánh Ly đã tham dự một cuộc thi hát với bài Thơ Ngây cùa nhạc sĩ Anh Việt nhưng không được giải gì. Cuối năm 1956, mới 11 tuổi, Khánh Ly một mình đi nhờ xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom. Lệ Mai hát bài Ngày Trở Về của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau “thần đồng” Quốc Thắng.
Năm 1962, Khánh Ly thực sự bước chân vào sự nghiệp ca hát, cô hát cho phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Cuối năm đó cô chuyển lên sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà ở đó. Năm 1964, Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, lúc đó còn chưa nổi tiếng, ông mời cô về Sài Gòn biểu diễn. Lúc đó, vì không muốn rời Đà Lạt nên Khánh Ly từ chối lời đề nghị của người nhạc sĩ trẻ đó.
Năm 1967, do tình cờ cô gặp lại Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn và từ đó, Khánh Ly cùng Trịnh Công Sơn đã trở thành một hiện tượng của tân nhạc Việt Nam.
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời cho sinh viên tại Quán Văn nằm trên bãi đất rộng sau trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Họ tiếp tục trình diễn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong sân cỏ trường đại học, nơi Khánh Ly được mệnh danh là “Nữ Hoàng Chân Đất” hay “Nữ Hoàng Sân Cỏ”. Khánh Ly chính là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tổ chức sô (show) diễn riêng của mình.
Về biệt danh “Nữ hoàng chân đất”, theo lời thuật lại của Khánh Ly trong băng Video Một đời Việt Nam thực hiện năm 1991, khi chưa có kinh nghiệm ca hát và lần đầu tiên xuất hiện trước một đám đông khoảng một ngàn người, Khánh Ly đã không giữ được bình tĩnh vá đứng không vững, phải vịn vào vai Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn nói “bỏ tay ra và đứng hát cho nghiêm chỉnh”, vì run quá, nên Khánh Ly cởi bỏ đôi giày cao gót và đứng chân đất và nhờ đó, đã có thể bình tĩnh để trình bày hết bài hát của Trịnh Công Sơn trong suốt một đêm đó, khoảng 30 đến 40 bài hát trong 1 đêm. Khánh Ly kể về thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.
Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều hãng đĩa tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các dĩa nhạc của các hãng dĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Continental và thâu vào băng Akai của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo Marcel… Năm 1968, Khánh Ly mở Hội Quán Cây Tre ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng Trịnh Công Sơn – Khánh Ly Hát Cho Quê hương Việt Nam.
Năm 1970, nhận được lời mời của đài truyền hình NHK, Khánh Ly sang biểu diễn ở Nhật Bản. Khánh Ly đã ghi âm và trình diễn các ca khúc bằng cả hai thứ tiếng Việt và Nhật.
Năm 1970, Chiến tranh Việt Nam lan rộng, Trịnh Công Sơn viết nhiều ca khúc phản chiến và được Khánh Ly hát trong những cuốn băng Hát Cho Quê Hương Việt Nam. Khánh Ly cũng tham gia hát trong những buổi ca nhạc gây dựng quỹ của các hội đoàn, hội Công giáo Việt Nam để xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, trại tị nạn. Năm 1972, cô mở một phòng trà ca nhạc mang tên Khánh Ly trên đường Tự Do, số 1214 tại thành phố Sài Gòn.

Vợ chồng ca sĩ Khánh Ly và bạn bè
Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam và định cư tại Cerritos, California, Hoa Kỳ. Năm 1979, một lần nữa Columbia Nippon lại mời Khánh Ly đến Nhật để thâu băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Năm 1982, đài Bunka Honso Radio mời Khánh Ly tham gia Liên hoan Âm nhạc Châu Á với nhiều nghệ sĩ nhiều nước châu Á. Năm 1985, Khánh Ly cùng chồng là nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan mở hãng thu riêng Khánh Ly Productions.
Năm 1996, Đài truyền hình NKH ở Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là một trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm phim tài liệu về cuộc đời và gia đình Khánh Ly.

Bí mật ra đời bài Đêm tàn bến ngự của Dương Thiệu Tước

Trong số những bài hát nổi tiếng được nhiều thế hệ yêu thích, vượt qua không gian, thời gian, in đậm dấu ấn vào nền Âm nhạc việt Nam nửa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 có bản Đêm tàn Bến Ngự của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Đây là một ca khúc lấy bối cảnh cố đô Huế trong thời khắc đẹp nhất của tiết thu phân. Bài hát với tiết tấu chậm, buồn, ca từ mượt mà, sang trọng, tình tứ mà mỗi khi ca sĩ hát lên khiến lòng người nghe rung động, cảm thụ âm nhạc thật tuyệt vời.
Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, chính ca khúc Đêm tàn Bến Ngự đã gắn liền một mối tình tuyệt đẹp, vượt qua không gian, bền bỉ theo thời gian đến hết cuộc đời của hai người nghệ sĩ nổi tiếng tài danh một thời của Sài Gòn. Đó là ca sĩ Minh Trang và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Cô gái dòng dõi quý tộc đất thần kinh
Minh Trang là nghệ danh khi trở thành ca sĩ của cô gái Nguyễn Thị Ngọc Trâm, bà sinh ngày 18-8-1921 tại một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự kinh đô Huế. Ở Huế, vào thế kỷ 19 mọi người hầu như đều nghe danh Mỹ Lương Công Chúa hay còn gọi là Bà Chúa Nhứt vốn là chị ruột của vua Thành Thái. Mỹ Lương Công Chúa là dòng dõi quý tộc nhưng lại có máu nghệ sĩ, bà có nuôi một ban hát đông tới hàng chục người và có riêng một ban ca Huế trong nhà để giúp vui, phục vụ cho việc giải trí. Chính Mỹ Lương Công Chúa là bà ngoại của Nguyễn Thị Ngọc Trâm, tức ca sĩ Minh Trang về sau.
Do thân phụ của ca sĩ Minh Trang là ông Nguyễn Hy một mệnh quan của triều đình Huế, vì công việc ông thường đáo nhậm nhiệm sở xa nên lúc nhỏ Minh Trang gắn bó với bên ngoại nhiều hơn bên nội. Chính thời thơ ấu cô gái Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã gắn bó với bà ngoại là Mỹ Lương Công Chúa nên hấp thụ được thẩm âm của dòng nhạc cung đình và mới 7-8 tuổi bà đã thuộc, hát được những bài bản cổ nhạc, ca Huế như Kim Tiền, Lưu Thủy, Nam Ai, Nam Bình… Mặc dù bà Ngọc Trâm nói giọng Quảng theo cha (ông Nguyễn Hy là người Quảng Ngãi), nhưng khi hát, bà lại hát bằng chất giọng Huế rất mượt mà, nhấn nhá, luyến láy rất thu hút, chất giọng truyền cảm tự nhiên ấy dễ đi vào lòng người nghe.
Tuy nhiên, khi lớn lên bà Ngọc Trâm lại được giáo dục theo Tây học nên hấp thụ nền văn hóa phương Tây, bà theo học trường Jeanne d’ Arc, một trường dòng của Pháp danh tiếng ở Huế và tất nhiên theo phong cách Tây phương bà Ngọc Trâm đã học và biết đàn dương cầm từ nhỏ. Khi lên bậc trung học bà Ngọc Trâm lại theo gia đình ra Hà Nội vì thân phụ bà đáo nhậm tại đây, Năm 1941 ông Nguyễn Hy trở về Huế nhậm chức ở Bộ Lại nên gia đình về sống ở Huế, bà Ngọc Trâm tiếp tục bậc trung học ở trường Lyceé Khải Định.
Khi còn đi học bà Ngọc Trâm được ông thầy dạy Việt Văn tên Ưng Quả, cũng là vị “phụ giáo” của triều đình chú ý, cảm mến. Ông Ưng Quả góa vợ, có hai con trai nhưng điều này không cản trở tình cảm của hai người đến với nhau. Bà Ngọc Trâm chấp nhận tiến tới hôn nhân với ông Ưng Quả và hai bên gia đình đều thuộc dạng “môn đăng hộ đối” bởi ông Ưng Quả là cháu nội của Tuy Lý Vương, còn Ngọc Trâm là cháu nội của Diên Lộc Quận Công.
Cuộc hôn nhân không tuổi tác nhưng lại rất hạnh phúc vì khi gắn bó tình cảm ban đầu “thầy” Ưng Quả và “cô trò nhỏ” Ngọc Trâm đã rất hợp với nhau. Họ sinh được một trai là Bửu Minh và một gái là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, chính bà Ngọc Trâm khi thành ca sĩ đã lấy tên con trai và con gái ghép lại để thành nghệ danh Minh Trang. Bửu Minh sau này cũng trở thành một vĩ cầm thủ nổi tiếng trong ban nhạc đại hòa tấu “Staasphihlarmonic Rheeinland Plalz” của Đức. Còn Công Tằng tôn Nữ Đoan Trang sau này chính là ca sĩ có giọng hát trong veo, cao vút Quỳnh Giao nổi tiếng trước năm 1975 ở Sài Gòn và sau năm 1975 khi định cư ở Mỹ

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

phận đời những ca sĩ ..... bán kẹo kéo

Họ cũng là những ca sĩ, có điều nơi biểu diễn của họ không ánh đèn màu. Sân khấu là lề đường, quán nhậu; cátsê họ nhận là tiếng vỗ tay và những nụ cười thân thiện.
Cái họ quan tâm không phải là sự nổi tiếng mà những đồng tiền còm cõi kiếm được từ việc bán những thanh kẹo kéo nhỏ ngọt thơm. Tôi đã nhận ra họ - "ca sĩ" bán kẹo kéo dưới ánh sáng hư ảo của đường phố, những con người đêm đêm cất cao tiếng hát mua vui cho đời và phía sau tiếng hát ấy là cả một nỗi niềm chất chứa của thân phận kiếp người trong sự xô bồ náo nhiệt của cuộc mưu sinh.
Tôi tìm đến họ trong một con hẻm nhỏ, ngoằn ngoèo, hun hút bên bờ kênh nước đen gần cầu Rạch ông (quận 8, TPHCM). Gọi là xóm kẹo kéo cho "sang" một chút chứ thật ra, đây chỉ là một dãy nhà trọ nghèo, tập hợp những người bán kẹo kéo thuê.
Chú Long kể lại những ngày đầu bước vào nghề không vốn, không tay nghề, sẵn biết cách làm kẹo kéo nên chú Long quyết định làm kẹo rồi rong ruổi khắp nơi bán dạo. Tuy không dư giả, nhưng cũng đủ ăn đủ mặc. Chú không khổ vì nghề nhưng chú chỉ buồn vì nghề của mình lại bị khinh khi. "Nhiều lúc bị người ta thóa mạ nước mắt ứa ra mà vẫn phải lầm lũi đi bán tiếp, cũng phải cầm lòng mà hát".
Sau những năm tháng miệt mài gắn bó, kinh nghiệm tích lũy cũng nhiều, nên khá nhiều người đến xin chú học nghề. Thấy hoàn cảnh của họ cũng khó khăn, chú giúp đỡ bằng cách thuê họ bán kẹo và trả lương đàng hoàng. Từ đó, số người dừng chân và gắn bó với nghề ngày càng nhiều và hợp thành xóm kẹo kéo này.
Khoảng 17h, người xóm kẹo lại lần lượt tỏa đi khắp nơi. Chiếc xe máy gắn thêm dàn âm thanh và 2 con người chen chúc nhau cùng rong ruổi. Mỗi xe một người "cầm tài", một người "ca sĩ". Người "cầm tài" chở "ca sĩ" đến các tuyến đường có nhiều quán nhậu, các địa điểm vui chơi và phải khôn khéo để tránh nhiều xe gặp nhau một chỗ. Hát, nhảy múa và bán kẹo là nhiệm vụ của "ca sĩ". Những người này phải dạn dĩ, có năng khiếu, gương mặt ưa nhìn.
Không chỉ mệt mỏi, những "ca sĩ" bán kẹo kéo còn chịu nhiều buồn tủi. Nơi họ đến bán đa phần là quán nhậu. Quán nhậu thì dạng người nào cũng có. Nhưng khi say, ai cũng như nhau. Người ít học khi say bực bội vì sự mời mọc thì văng tục vài câu, người trí thức thì dùng lời lẽ cay độc để đánh vào lòng tự trọng của những con người lam lũ.
Anh Nhã chia sẻ: "Trách làm sao được lời nói của người say". Bản thân Nhã chỉ học hết lớp 2, gia đình khó khăn lại đông anh em. Gia đình từ Đồng Tháp dắt díu nhau lên Đắc Lắc để mong có ngày đổi đời với cà phê và tiêu, điều. Nhưng không phải ai cũng có thể vượt ra được số nghèo. Khô hạn thiếu nước, cái ăn không đủ, anh một mình đến TPHCM, làm đủ thứ việc và cuối cùng yêu thích và gắn bó với nghề "ca sĩ" kẹo kéo.
Ít chữ, ốm yếu nhưng có tài lẻ là hát và nhảy nên anh Nhã đã sống bằng nghề bán kẹo kéo hơn 3 năm. Anh nhảy đẹp, và được mệnh danh là Micheal Jackson của xóm. Khi nhìn anh nhảy giữa dòng xe tấp nập, gương mặt anh rạng rỡ, hạnh phúc đến lạ.
Những bước nhảy của anh trước khán giả (dù đó là những kẻ say hay người tỉnh) cứ nhẹ tênh và điêu luyện như một nghệ sĩ đang biểu diển trên sân khấu... Bất giác tôi chợt nghĩ: Họ - những "nghệ sĩ đường phố" này dường như khi biểu diễn không chút nào vướng bận chuyện manh áo, chén cơm.
Nhưng anh chưa phải là người gắn bó lâu nhất. Anh Hồ Thanh Điền đã có hơn 10 năm trong nghề. Anh có giọng hát giống hệt ca sĩ nổi tiếng Đàm Vĩnh Hưng. Tôi ấn tượng với gương mặt trải đời và mái tóc nhuốm bụi phong trần của anh. Sương gió cuộc đời cho anh những cảm xúc đặc biệt trong từng lời hát. ấy thế, anh vẫn không tránh được những lúc thượng đế của mình nổi điên lấy đồ chọi vào loa, giật lấy micro nhúng vào nồi lẩu. Mất cần câu cơm, anh vay mượn tiền đứng, tiền góp để sửa. Vậy là cái nghèo vẫn cứ đuổi riết theo anh.
Xóm cũng có nhiều bạn là sinh viên, một số đang theo học và đến với nghề này để mong có tiền trang trải việc học. Một số bị nợ môn, tốt nghiệp rồi nhưng chưa thể lấy bằng, kiếm tiền để học môn nợ nhưng mãi vẫn chưa thoát ra được kiếp "ca sĩ" hát rong.
Cả xóm kẹo mỗi người một hoàn cảnh, không có cái khổ nào giống nhau. Nhưng họ có chung nỗi niềm đem bán vị ngọt mang chua cay về riêng mình.
Cần lắm một chữ tình
Dẫu biết ca hát vào buổi tối là ồn ào, gây mất trật tự, nhưng đó là cách duy nhất người bán kẹo kéo thu hút khách. Khi thấy khách tỏ ra khó chịu thì họ lập tức vặn nhỏ nhạc hoặc đi chỗ khác. Có nơi, chủ quán không cho bán thế là lủi thủi quay xe chạy đi. Cũng không ít lần, họ bị công an bắt và phạt. Đôi lúc được thông cảm, gặp người dễ tính thì chỉ bị nhắc nhở rồi thả cho về. Nhưng có hôm, họ bị phạt từ 200 nghìn đến gần 1 triệu đồng. Vậy là hết vốn liếng, phải vay mượn tiền để đóng tiền phạt.
Chú Long nói vui: "Chị Dậu còn có chó để bán còn những người bán kẹo kéo không có gì cả, xe cũng là thuê mướn, chỉ có giọng hát là vốn liếng". Chị Dậu - một nhân vật văn học, còn nhận được sự đồng cảm yêu thương của mọi người, vậy cớ sao những cảnh nghèo khó trước mắt, chúng ta lại làm ngơ, lại nhẫn tâm chà đạp lòng tự trọng và sự lương thiện của họ? Họ cũng sống bằng sức lao động, bằng sự yêu nghề và ý thức mang niềm vui đến cho mọi người.

Một ngày mưa ta hẹn hò với cô đơn....

Ta học cách chấp nhận đau khổ, bởi chỉ khi biết chấp nhận ta mới tìm được liều thuốc đúng cho nỗi đau mà ta đang gánh chịu. Thế là chỉ cần thời gian, ta có thể xóa mọi vết thương, kể cả vết thương lòng.
Một ngày mưa, ta cầm ô tìm đến một quán quen nơi góc đường, cửa kính trong suốt khiến ta có thể cảm nhận mưa như đang tưới mát cả tâm hồn ta giữa bao tháng ngày ngột ngạt.
Nhâm nhi tách coffee không đắng ngắt vì có thêm vị sữa, ta mỉm cười hít thật sâu hương vị coffee ngon. Thật ra thì ta cũng không biết định nghĩa coffee ngon là như thế nào đâu, chỉ vì nơi ta đang ngồi là quán quen, thứ ta uống là thứ quen, vì vậy ta thấy ngon, chỉ thế thôi.
Tiếng chuông gió leng keng mỗi khi có khách vào. Trời mưa, nhịp độ của chuông kêu nhiều hơn vì có những vị khách không mục đích bước vào, chỉ tại trời mưa và cần một nơi trú mưa. Ta mỉm cười với chị chủ quán, ngầm ý nói: “Chị phải cảm ơn ông trời vì đã thả mưa!”
Ta lại đưa tách coffee lên môi, nhấp một ngụm rồi đưa lên trước khung cửa kính, cảm giác như mưa đang nhỏ từng giọt tinh khiết vào trong tách, kì diệu đến lạ lùng. Rồi ta lại đưa tách theo bước chân người đi đường, coffee sóng sánh trong tách vì ta đưa theo không kịp, những bước chân vội vàng, cuống cuồng tránh mưa. Ta mỉm cười tự thấy đời ta sao nhàn rỗi quá.
Mấy ai cảm thấy đời này nhàn rỗi khi không còn là một đứa trẻ. Bởi cuộc sống là một guồng quay, quay mãi, quay mãi cho đến khi ta hoàn thành xong một kiếp người. Ta vẫn bước đấy, ta vẫn quay đấy, nhưng sức mỗi người khác nhau, ai đi kịp thì nhẹ nhàng, ai yếu đuối tất nhiên phải thấy mệt mỏi, chán nản và đôi khi bỏ cuộc giữa chừng.
Ta học cách cảm nhận cuộc sống theo hướng ngược lại trong từng khoảng khắc. Khi ta đang vui bên bạn bè, ta lại nghĩ đến một ngày không có bạn bè ở bên. Thế là ta biết phải trân trọng giờ phút ấy.
Ta học cách chấp nhận đau khổ, bởi chỉ khi biết chấp nhận ta mới tìm được liều thuốc đúng cho nỗi đau mà ta đang gánh chịu. Thế là chỉ cần thời gian, ta có thể xóa mọi vết thương, kể cả vết thương lòng.
Ta học cách tha thứ cho những người mà ta đã từng gọi bằng hai chữ “kẻ thù”. Bởi có kẻ thù thì ta mới phân biệt được đúng sai, tốt xấu trong cuộc đời này. Đến cuối cùng ta lại muốn ôm họ, cảm ơn họ vì đã cho ta biết thêm sắc màu cuộc sống.
Ta học cách hài lòng với những gì ta đang có. Vốn dĩ có câu nói rất đúng: “Ta không được phép lựa chọn nơi ta sinh ra, nhưng ta có quyền lựa chọn ta sống như thế nào”, thế nên trước khi biết phải sống như thế nào, ta hài lòng với thứ ta đang có, là gia đình, là bạn bè, là hình dáng… ta còn học cách yêu những điều ấy. Bởi ta nhận ra, tình yêu thương luôn làm nên những điều kì diệu.
Ta học… ta vẫn đang học từng điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống này. Để biết được rằng ta vẫn bước, vẫn đi, vẫn quay theo cuộc sống chứ không dừng và không là một điểm chết.
Mưa vẫn rơi, đường vẫn nhiều người quá lại. Tách coffee của ta chỉ còn đủ cho ta uống trong một ngụm. Tiếng cười nói trong quán mỗi lúc một nhiều, ta nhìn quanh và nhận ra bàn nào cũng nhiều người, chỉ có mỗi chỗ ta ngồi là một mình ta. Cô đơn. Phải rồi, ta vẫn đang hẹn hò với cô đơn.
Một ngày mưa, rồi lại hẹn hò với cô đơn, nhưng ta cảm thấy hài lòng, thanh thản xen lẫn bình yên.

Lạc mất em giửa mùa mưa Saigon


Ngày mai cho tôi dừng lại chút thôi em nhé, để thôi hết nhớ nhung, sau đó sẽ là những chuỗi yêu thương đong đầy.
Sài Gòn chiều nay mưa lất phất buồn, con đường về vùng ngoại ô càng thêm xa vời vợi, vòng xe lăn mãi dưới bóng mưa nhạt nhòa. Tôi không vội vã đi qua cơn mưa mà từ từ cảm nhận cái se lạnh, chậm rãi lướt qua những ngõ vắng để cảm nhận sự cô đơn, tĩnh mịch; để nghe tiếng thở của hương xưa phảng phất đâu đây, rất gần nhưng cũng rất xa; để cảm nhận bằng tâm hồn đang dần chai cứng với cuộc sống; để nghe trong yên lặng, đường êm ắng, chỉ có tiếng mưa. Bất chợt nỗi nhớ tiếp tục đưa chân tôi lang thang bên một bờ sông vắng lộng gió.

Thỉnh thoảng tôi vẫn về đây như thường lật giở từng trang kỷ niệm, thả lòng mình ngắm theo dòng nước trên những khoảnh khắc thời gian trôi đi không bao giờ lấy lại được. Mới đây thôi mà sao bỗng xa xôi ngút ngàn. Thảm cỏ hai bên bờ vẫn mượt xanh và những trảng hoa vẫn ấp đầy hương sắc. Cỏ đùa cợt cùng gió và hoa vẫn cứ lẳng lơ cùng ong bướm không hề e thẹn. Lang thang giữa dòng nước kia là những đám lục bình đang trổ bông, cũng đẹp đấy!

Tôi đứng nhìn mãi những bông hoa tím co ro trong gió, xuôi theo dòng nước, trong chiều nắng tắt, quặn lòng, như gặp lại người xưa. Tiềm thức của tôi muốn kiếm tìm những thứ mong manh không có tên tuổi trong đôi mắt em ngày nào. Tôi lang thang, lạc lối giữa muôn trùng tâm tư không dám nói. Trong cơn mơ giữa đêm, tôi thấy mình là chiếc lá cuối cùng trên thân cây khô cằn, rồi nhẹ tênh hòa vào cơn gió mang mình bay lên vùng trời kỷ niệm.

Ở lại đây em nhé, cơn gió nhẹ nhàng ru tôi giấc ngủ dài đêm thâu. Nơi đây có nụ hoa đâm chồi, có tình yêu đang tồn tại, vậy mà mãi miên man, bàn tay tôi mãi không chạm tới, không thể cảm nhận dù chỉ một làn hơi ấm thoáng nhẹ qua đây. Tôi vẫn mơ đến những buổi chiều thả hồn với gió, em như chiếc bóng thầm lặng bên tôi lang thang trên những con phố dài rợp bóng mát, tóc em lòa xòa vệt ngang môi.

Tôi đã chờ đợi trong mòn mỏi những điều tưởng chừng đơn giản mà xa mãi nơi đâu, lối hẹn xưa nay cỏ cũng nhạt nhòa. Em có trở lại hay thời gian trở lại? Có lẽ tôi chỉ đang tự huyền ảo chính mình. Thôi cứ mơ, cứ chờ và cứ đợi hỡi cô bé ngây thơ ngày ấy, dù đó là những phút phiêu du trong tiềm thức. Ngày mai cho tôi dừng lại chút thôi em nhé, để thôi hết nhớ nhung, sau đó sẽ là những chuỗi yêu thương đong đầy. Cũng như bao người, tôi thường hoài niệm lúc chơi vơi.

Nhớ Sài Gòn một chiều mưa tầm tã
Phố đông người tôi vội vã đón em
Chờ đôi mắt tròn đen giăng buồn bã
Long lanh nhìn làm rời rã tim si.

Sài Gòn giờ mưa có rơi tầm tã
Chiều em về ai vội vã đón đưa
Mắt tròn đen ngày xưa giăng buồn bã
Chiều nay còn êm ả nhớ tôi không?

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

không khóc đâu hẳn là bình yên....


Không khóc chỉ chứng tỏ một điều rằng người đó có sức chịu đựng và che đậy giỏi nỗi đau của bản thân. Khi giọt nước mắt người ta chẳng rơi nhưng người ta vẫn đưa tay mình lên đôi bờ má vuốt vuốt hư vô thì nỗi đau đó còn gì có thể chữa lành... Người ta ơi! Nếu còn khóc được thì hãy còn hạnh phúc nhé...
Ngày trước tôi thường hay khóc, giọt nước mắt tôi rất rơi dễ dàng... Lúc ấy tôi thường nghĩ sao mình nhiều nỗi buồn và bất hạnh... Nhưng năm về sau khi mà giờ đây tôi không dễ dàng khóc được nữa... Tôi nhận ra rằng ít ra tôi của ngày xưa nhiều may mắn hơn tôi của bây giờ... Giọt nước mắt của tôi bây giờ không dễ dàng như trước nữa. Không phải là vì bây giờ cuộc sống ngoài kia trở nên bình yên hơn hay tôi đang hạnh phúc... mà là bây giờ tôi trở nên đáng thương hơn xưa. Nhiều người nghĩ rằng những người không khóc là những người đang hạnh phúc và bình yên... Nhưng thật ra, khi người ta muốn khóc lại không khóc được, phải giấu nước mắt vào trong đó mới chính là tận cùng của nỗi đau... Người ta còn khóc được ít ra những người xung quanh còn biết họ đang buồn hay đau... Nhưng một khi người ta cứ trơ trơ với tất cả những sự việc... thì hẳn nỗi đau trong lòng đã quá lớn. Những khi đau quá người ta thường hay "điếng" không biết gì như nhiều người hay nói.
Không khóc đau hẳn là không đau và giọt nước mắt không trực trào trên khóe mi. Không khóc chỉ chứng tỏ một điều rằng người đó có sức chịu đựng và che đậy giỏi nỗi đau của bản thân. Khi giọt nước mắt người ta chẳng rơi nhưng người ta vẫn đưa tay mình lên đôi bờ má vuốt vuốt hư vô thì nỗi đau đó còn gì có thể chữa lành... Khi mà nụ cười đã gọi là khó khăn... và nước mắt càng khó khăn hơn... Người ta thèm khát đến chết được câu nói "Tớ ở đây! Cậu cứ yên tâm tựa vào tớ mà khóc"... Nhưng cơ bản người ta chỉ thèm những thứ không người ta có...
Tôi không khóc nữa, không phải vì tôi đã cạn khô nước mắt... mà là vì đứng trước nhiều quá những nỗi đau... Khóc có nghĩa là thua cuộc, là từ bỏ và cam chịu... thì ôi không còn đủ mạnh mẽ để khóc... Cũng giống như một rừng cây ngã... thì ít nhất cũng có một cây đứng trụ vững... để khi người khác đi ngang cánh rừng ấy người ta thấy rằng sự sống vẫn hiện diện. Tôi gánh trên vai là cả đổ vỡ của gia đình, là những mệt mỏi, hờn trách và nuối tiếc với người... Nặng lắm chứ nhưng làm sao khóc đây? Khi người ta lớn, người ta chỉ ước mình như ngày trẻ dại, dễ dàng khóc rồi cũng dễ dàng quên... muốn nước mắt rửa sạch bao muộn phiền. Nhưng tiếc thay ai rồi cũng trưởng thành. Nặng nề và đau thương của thời gian cứ thế đè nén lên. Và tôi hiểu được rằng khóc đôi khi chỉ làm dày lên nỗi buồn, làm vài người khác lo lắng và vài người khác không thấy yên tâm.
Khi người ta không khóc được thì người ta thường nằm co ro một góc như đứa trẻ ngày còn trong bụng mẹ... Vì khi ấy người ta thấy mình ấm hơn một chút, đỡ cô đơn, lạnh lẽo và đáng thương... Những đêm lạnh, một mình, tôi lại nằm như vậy... Khi ấy tôi chỉ ước giá như mình có thể dễ dàng òa khóc như đứa trẻ những khi tôi buồn để nhiều người ngoài kia còn biết trái tim tôi đã tổn thương ra sao... Giá như tôi không phải xù lông nhím lên để che đậy và chống chọi với mọi thứ... Người ta ơi! Nếu còn khóc được thì hãy còn hạnh phúc nhé...


Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Danh ca Hà Thanh

Ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần thị Lục Hà, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1937 tại Huế. Năm 1953, bà đoạt giải nhất trong một cuộc thi tuyển lựa giọng ca do Đài phát thanh Huế tổ chức với nhạc phẩm Dòng Sông Xanh của Johann Strauss. Cũng vì lý do đó bà lấy cho mình nghệ danh Hà Thanh. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn và trở thành một trong những giọng ca được ưa chuộng nhất tại miền Nam suốt thập niên 60. Bà thường xuyên cộng tác với các ban nhạc Tiếng Hát Hậu Phương của Phạm Mạnh Cương, Tiếng Hát Đôi Mươi của Nhật Trường, Dạ Hưong của Đỗ Thiều, Đàn Dây của nhạc sĩ Anh Việt, Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình của ca sĩ Anh Ngọc. Hà Thanh thâu thanh cho các hãng đĩa Shotguns, Sóng Nhạc, Continental, Việt Nam, Trường Sơn, Asia, các đài phát thanh VOF, Mẹ Việt Nam, Sài Gòn và Quân Đội. Bà nổi bật với dòng nhạc Nguyễn văn Đông (Chiều mưa biên giới, Nhớ một chiều xuân, Mấy dặm sơn khê…) nhưng cũng thành công với các nhạc phẩm như Gửi gió cho mây ngàn bay (Đoàn Chuẩn/ Từ Linh), Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong), Suối Mơ (Văn Cao), Tôi đi giữa hoàng hôn (Văn Phụng), Hoa Xuân (Phạm Duy)…

Năm 1972 bà kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Quân lực VNCH; họ có với nhau một người con. Sau năm 1975, ông phải đi học tập cải tạo. Trong giai đoạn này, bà hoạt động văn nghệ trong ban nhạc đoàn Kịch nói Kim Cương . Ca sĩ Hà Thanh và con gái được bảo lãnh sang Mỹ năm 1984. Đến 1990, vợ chồng bà được sum họp tại Mỹ nhưng chia tay hai năm sau đó.

Tại Mỹ, các trung tâm âm nhạc đã cho ra mắt 4 album cho riêng tiếng hát Hà Thanh. Đó là Khúc Tình Ca Xứ Huế, Chiều Mưa Biên Giới, Chinh Phụ Ca và Sầu Mộng. Bà cũng từng xuất hiện trên các sân khấu lớn như Paris by Night, Asia, và Làng Văn.

Song song với sự nghiệp âm nhạc, ca sĩ Hà Thanh còn được biết tới qua cuộc sống tâm linh. Bà phát hành tại hải ngoại hai CD nhạc Phật giáo mang tên Ngát Hương Đàm và Nhành Dương Cứu Khổ. Hà Thanh cũng phổ nhạc vào nhiều bài kệ Phật giáo. Năm 1988 bà đi hành hương ba tuần với Tăng Thân Làng Mai lên tận núi Linh Thứu ở Ấn Độ. Bà được Thiền sư Thích Nhất Hạnh ban cho danh hiệu Ca Lăng Tần Già (một loại chim huyền thoại khi cất tiếng hót sẽ làm người nghe giác ngộ).

Ngày 1 tháng Giêng năm 2014, Hà Thanh- Ca Lăng Tần Già qua đời tại Boston vì chứng ung thư máu. Nhiều bạn bè và khán giả ái mộ tổ chức các buổi tưởng niệm cho bà tại Boston-Massachusetts, Virginia, California, Huế và Sài Gòn.

tác phẩm Chiều mưa biên giới
sáng tác Nguyễn Văn Đông
tiếng hát Hà Thanh
https://www.youtube.com/watch?v=aaI81di4FEw

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

nhọc nhằn công nhân đàn

Tùy từng tụ điểm nơi nhạc công hành nghề mà đẳng cấp được khẳng định.
“Công nhân đàn” là cách gọi vui mà giới nhạc công tự nhận khi được hỏi về mình. Họ là những người được học hành bài bản tại các trường chuyên nghiệp: Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội, Học viện Âm nhạc Quốc gia… Ban ngày họ là những nhân viên mẫn cán ở các nhà văn hóa, đoàn văn công hoặc giảng dạy tại các trường nghệ thuật. Buổi tối họ sẽ đi làm thêm bằng cách họp nhau lại và lập nên một ban nhạc chơi cho các khách sạn, câu lạc bộ lớn: Fotuna, Daiwoo, Hale club… Số còn lại là lớp nhạc công tự do (nhạc công nghiệp dư) phần lớn là sinh viên các trường đại học và những người chơi khá.
Cũng tùy nơi thuê nhạc công mà đẳng cấp cũng được vạch ra. Đối với những ban nhạc chơi ở những tụ điểm lớn thường là các khách sạn sang trọng: Fotuna, Daiwoo, sofitel… còn lại những nhạc công bình dân thì tạm bằng lòng với các tụ điểm nhỏ hoặc các quán cà phê ca nhạc phục vụ cho sinh viên. Ở các khách sạn lớn luôn có từ 1 - 2 ban nhạc “ruột” để thay nhau phục vụ vào tất cả các buổi tối trong tuần. Trưởng ban là người đứng ra lo toàn bộ công việc liên quan đến ban nhạc: Lên chương trình, lo ca sỹ, lương, sắp xếp lịch làm việc… Đối với các tụ điểm nhỏ thường chỉ cần một vài tay đàn cơ bản nên chủ quán kiêm luôn việc điều phối hoạt động trên sân khấu.
Anh Vũ là một nhạc công tại khách sạn Foutuna (Láng Hạ, Hà Nội). Anh cho biết mình đang thuộc quân số của đoàn ca múa nhạc Thăng Long. Tính đến nay Vũ đã làm thêm ở khách sạn này đã 4 năm và có khá nhiều mối quan hệ với các đồng nghiệp.
Anh Vũ cho biết chỉ cần nhìn vào sự xuất hiện của các thành viên trong một ban nhạc có đầy đủ hay không là biết được đẳng cấp của quán thế nào. Đối với các tụ điểm đẳng cấp cao thì ban nhạc đủ cả cây chơi live bao gồm: 1 bass, 1 guitar, 1drum, 2 keyboard. Đối với những tụ điểm bình dân hơn như quán café Cuối Ngõ (Cầu Giấy), Hà Nội em và tôi (Hồ Đắc Di), Vọng (Phố Vọng)… do quy mô nhỏ nên nguồn tài chính để chi phí cũng hạn hẹp hơn. Tại những nơi này quán này chỉ cần 1 keyboad, 1 ca sỹ hoặc phổ biến nhất là 1 guitar, 1violon nhạc Trịnh, nhạc mới hoặc vài bài cổ điển hòa tấu.
Một nguồn nữa là từ các mối quan hệ với MC chuyên đi dẫn tiệc cưới. Cùng với MC là đội ngũ các ca sỹ, nhạc công… hoạt động theo hình thức là một ekip chuyên đi nhận xô diễn tại các đám tiệc.
Do tính chất công việc nên sự thay đổi ban nhạc, ca sỹ cũng thường xảy ra. “Đôi khi những người làm nghề như chúng tôi cũng có chút ghen tỵ đối với các ca sỹ cùng ê kíp bởi một buổi tối họ có thể chạy sô 2, 3 tụ điểm nhưng người nhạc công phải biểu diễn từ đầu buổi đến cuối buổi nên thu nhập vì thế cũng thấp hơn. Khoảng 200 - 250 nghìn/đêm đối với những nhạc công chuyên nghiệp và 80 - 120 nghìn/đêm đối với những nhạc công bình dân. So với Sài Gòn thì ở Hà Nội không phổ biến hình thức “boa” thêm cho nhạc công mà dân trong nghề quen gọi đó là tiền tips. Nếu có thì người ta chỉ tips cho ca sỹ chứ ít ai nghĩ đến nhạc công bọn mình”, Minh Ngọc hài hước nói thêm.
Đối với những nhạc công chuyên nghiệp thì họ có những thuận lợi khi chủ động chuẩn bị công việc của mình như: Ban ngày mang bài về nhà nghe, buổi chiều sẽ sắp xếp công việc để ghép với ban nhạc và ghép với ca sỹ vào sát giờ diễn. Các chương trình thường được lên sẵn kịch bản tuy nhiên cũng không tránh khỏi việc khán giả yêu cầu hát bài hát ngoài chương trình. Đối phó với những trường hợp này anh Vũ bật mí: “Không phải trường hợp nào yêu cầu cũng đáp ứng. Làm nghề phục vụ như bọn mình luôn phải cố gắng vừa làm chủ sân khấu lại vừa phải biết khéo léo để né đi những bài khách yêu cầu mà không có sự chuẩn bị trước bởi những trường hợp phát sinh rất dễ gặp sự cố.
Với những nhạc công tự do đánh ở quán nhỏ thì họ lại phải đối mặt với thực tế là sự thay ngôi đổi chủ diễn ra như cơm bữa. Nếu chủ quán thuê được người khác với giá thấp hơn mình thì việc sa thải cũng là điều “tất lẽ dĩ ngẫu”.
Phạm Huấn, một nhạc công khác của quán P.V (Khu ĐH Bách Khoa Hà Nội) cũng tiết lộ: Có khi quán sập tiệm đồng nghĩa là mình mất việc. Xô bồ hơn là những nhóm nhạc chuyên nhận ở các tiệc cưới. Thù lao của nhóm này khá bèo bọt (khoảng 60 – 150 ngàn/bài) chưa kể đến việc phải để lại hoa hồng cho người giới thiệu, thường là 10 - 20% của thù lao.
Đôi khi thấy chạnh lòng
Minh Dũng, một nhạc công chuyên đi đệm nhạc thuê cho các tiệc cưới tâm sự: “Hồi mới làm, thấy người ta ăn uống, cười nói rổn rảng bên dưới mình cũng thấy chạnh lòng nhưng mãi rồi cũng thành quen. Chỉ ngại nhất có những người bia rượu quá chén chạy lên sân khấu thử làm ca sỹ khiến bao phen nhạc công không biết nên đánh thế nào cho phải”

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Nhạc sĩ Văn Cao

Từ khi tân nhạc ra đời chúng ta đã có một loại nhạc mà đặt tính là lãng mạn, qua các tác phẩm của Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương, Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn.... Tất cả những bản nhạc tình đó, cũng giống như nền thơ mới Vietnam lúc bấy giờ, bị ảnh văn chương và thi ca lãng mạn Pháp. Cụ thể mà nói, những người viết nhạc đầu tiên của Vietnam đều theo lãng mạn tính theo cá nhân và chủ nghĩa Pháp.
Chẳng khác chi những i sĩ trẻ vào lúc đó, Văn Cao cũng bị mùa thu ám ảnh cho nên những bản nhạc tình lãng mạn đầu tiên của ông đều nói tới mùa thu. Những bài như Thu cô liêu, Buồn tàn thu còn pha trộn thêm cái buồn của Đông Phương. Lời ca của Thu cô liêu nghe như bài thơ đường:
Thu cô liêu tịch liêu cô thôn chiều
Ta yêu thu, yêu thu, yêu mùa thu
Vàng hoen đáy nước, son rõ đường đi
Một mùa thi, một mùa thi
Lá xanh rơi rụng buồn chi lá vạng....
Nhac điệu thì theo chủ thể tây phương (musicque tonale) với những áp âm (notes sensibles) làm cho nét nhạc có nhiều cảm tính. Nhiệp điệu là thể valse đầy lưu luyến và cũng đầy luyến tiêc :
Trăng ấp lạnh non sương cứng lã
Đa từng nghe rõ biết thu sang
Hồn theo cánh gío lướt bay tìm em
Một chiều êm, một chiều êm....
Cũng với thuật này Văn Cao soạn Cung đàn xưa, lần này thì nói tới mùa xuân nhưng lại là một mùa xuân đã tàn, đã chết. Tuy là một bài háy ngắn, nhưng Văn Cao cũng chia ra làm 4 đoản khúc rõ ràng. Đoạn đầy nói tới cung đàn năm xưa:
Hồn cầm phong hương hình bóng xuân tàn
Ngày dần buông trôi sầu vắng cung đàn
Lời đàn năm xưa se kết đôi lòng
Lời đàn năm nay chia rẽ đôi lòng....
Đoạn 2 nói đến cung Thương, cung Nam mà Lê Thương và Phạm Duy cũng đều nói tới qua những bài Tiếng đàn xuân, khối tình trương chi. Cung thương là tiếng đàn
Cung nam là tiếng người
Ai oán khúc ca cầm chìm rơi
Tình duyên lãng đãng nhớ thương dần pha phôi.....
Đoạn 3 chuyển qua một nhiệp điêu khác, nói tới sự buồn rầu trong cung đàn xưa :
Cung đàn ngân
Buồn xa vắng trong tiếng thầm
Buồn tê tái trong tiếng ngân
Buồn như lúc xuân xắp tàn
Ôi đàn xưa
Còn vang nhắc chi đến người
Lòng ta tắt bao thắm tươi
U hoài duyên đưa...
Thì ra tất cả ba đoạn nói tới một cung đàn xưa đó chỉ muống nhắc tới một người mà Văn Cao diễn tả một cách tuyệt mỹ, một người tình tưởng tượng có đôi mắt giữ lại mùa xuân, có đôi chân đi tới đâu hoa nở tới đó, có thân hình thơm hương, có tiếng nói khơi dậy thương yêu... kiến cho hiện thân của anh Trương Chi là Văn Cao đó bây giờ phải cất lên tiếng đàn giao hoan và dệt nên không biết bao nhiêu là mộng mị:
Chiều năm xưa, gót giày khai hoa
Mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương
Chiều năm nay tiếng người khơi thương
Tiếng đàn giao hoan giấc mộng chàng Trương.....
Bài hát sẽ trở lại đoạn đầu để hết.
Tôi muốn nói tới hai bài Thu cô liêu, Cung đàn xưa này là vì, đáng tiếc thay, rất ít người biết tới những bản nhạc tình đầu tay của Văn Cao, trong đó ta đã thấy manh nha những hình ảnh, những ý tình, những cái đẹp mà Văn Cai sẽ phát triển độ trong hai bài ca bất hủ là Thiên thaiTrương chi. Những cô hái mơ, cô bán hoa, cô hàng nước, cô lái đò, cô láng giềng.... mà ta thấy xuất hiện trong các bản nhạc tình thuở đó, làm sao mà có được những gót gày khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương.... như trong bản cung đàn xưa của Văn Cao? Chỉ cần có 12 chử, và dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng mà thôi, Văn Cao đã đưa nhạc tình tiền chiến lên tới một cao độ vượt khỏi những khuôn sáo củ mèm.
Sau những bản nhạc tình đầu tay xuất sắc như vậy, Văn Cao soạn Suối mơBến xuân. Lúc đó chưa  ai có thể mô tả cái đẹp của con suối thu như Văn Cao :
Suối mơ
Bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng
Ngày chưa đi sao gío vương
Bờ xanh ngắt bóng đôi cây thùy dương....
Hoặc người đẹp trong Bến Xuân
Tới đây mây dừng bước ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước ...
...............................................................
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng ...
Trong cả hai bài nhạc tình về mùa thu và mùa xuân này, bao giờ nét nhạc mineure mở đầu cũng rất lâng lâng rồi cũng sẽ chuyển qua một nét nhạc majeure ngắn để diển tả niềm vui thoáng qua. HÌnh ảnh người tình trong cả hai bài hát này đều rất lộng lẫy, cao sang. Tình cảm của cả hai bài nhạc tình đều không dồn con người vào cõi u tối, trái lại còn làm cho người nghe thấu nguôi ngoai sảng khoái. Con suối trong rừng thu buồn muôn thuở là vì còn lưu luyến hương vị tình yêu chúng ta :
Suối ơi
Nghe rừng heo hút
Dòng em đưa lá khô già rút
Còn như lưu hương yếu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu ?
Đứng trên bến Xuân để nhìn cánh buồn xa và nghe tiếng chim ca lưu luyến cuộc tình vừa qua của chúng ta :
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Ôi cánh buồn nâu còn trên lớp sóng xuân
Ai tha huong nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mâu thiết tha
Lưu luyến tình vừa qua....
Văn Cao nổi danh rất sớm vì một bài hát về mùa thu là bài Buồn tàn thu (khi ra bài này Văn Cao đã đề tặng Phạm Duy : tương tiến PD người du ca gieo giắc nhạc buồn của tôi), nhưng bài này không có giá trị về nghệ thuật cao bằng những bài tôi vừa nói tới. Vì Buồn tàn thu được hát trên sân khấu gánh hát rong trên đài phát thanh Saigon trong nhỹngw năm 1943 - 1945 là lúc tân nhạc còn mới phôi thai, cho nên nó được phổ biến nhiều hơn là Thu cô liêu hay Cung đàn xưa.... Những bài tình ca nhỏ nhặt đó sẽ bị mờ đi khi Thiên thai & Truong chi ra đời. Với tôi tài năng đã đến độ chín mùi, Văn Cao sẽ dắt ta tơí đỉnh cao nhất của ái tình cũng như sẽ đưa ta vào cỏi sâu thẩm nhất của khổ đau với hai câu truyện dân gian biến thành hai bản tình ca muôn thuở.

THIÊN THAI

tôi đã có diệp nói đến không khí Đường thi trong nhạc Văn Cao, nghĩa là nói tới chất thơ trong sáng, cô động ngay từ những bản tân nhạc đầu tiên của ông. Ta thấy những bài Thu cô liêu, buồn tàn thu... như có vẽ thoát ra từ khung cảnh Thu Hứng của Đỗ Phủ. Nghe câu hát trong bài cung đàn xưa "chiều năm xưa gót hài khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng nồng thơm hương".... thì ta nghe như một câu thơ của Thôi Hiệu.... nhưng trong thời kỳ hình thành và phát triển của tân nhạc Văn Cao cũng không phải là chàng nhạc sĩ trẻ tuổi độc nhất bị ảnh hưởng của thơ Đường. Nhạc sũ Lê Thương mà đã chẳng biết dùng khung cảnh TRĂNG QUAN SAN của Lý Bạch để soạn ra câu hát "qua thiên san kìa ai tiễ rựu vừa tàn" khiến cho 3 bản hòn vọng phu của ông đã trở nên bất diệt đó à? Có lẽ cũng cảm thấy ma lực của Đường Thi trong tân nhạc cho nên về sau này nhạc sĩ Phạm Duy cũng mượng không khí "Cô tô thành ngoại Hàn San Tự - Dạ ván cung thanh đáo khách thuyền" của Trương Kế để soạn ra câu hát trên sông Lô : "Thuyền tôi đậu bến sông Lô -  Nửa đêm nghe tiếng quân thù thở than" .... Nếu chúng ta đi xa thêm vào dĩ vãng, ta lại còn thấy trong truyền thống hát Ả Đào, những bài thơ như Tương Tiến Tửu, Tiền Hậu Xích Bích.... của thơ đường Vietnam đã trở thành những điệu hát hoàn toàn Vietnam. Còn trong sân khấu cải lương Vietnam cũng có hẳn một điệu hát gọi là Dạ Bán Chung Thinh. Ai cũng ảnh hưởng bởi đường thi mà chẳng nói ra hay chưa có dịp để nói ra. Nhưng với bài Thiên thai ra đời năm 1944 thì Văn Cao đã không ngần ngại viết mấy câu đề tựa như sau :
Ảnh hưởng sông nứơc khúc Thiên Thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên Thai và Đào Nguyên. Người sông ngự đã lạc cảm xúc rồi. Mùa xuân năm giáp thân. Văn Cao.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên
Kìa nguồn hương duyên
Theo gío tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến
Mấy cung u huyền
Mấy cung trầm lắng
Như nước reo mạn thuyền ....

Ta hảy thử xem những bài thơ đường mà Văn Cao vừa kể ra như Đào Nguyên Hành của Vương Duy và Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai của Tào Đường đã có những gì để khiến cho người nhạc sĩ mang thêm bí danh Người Sông Ngự nàu đã lạc cảm xúc? Trong cuốn Đường Thi in tại Saigon vào năm 1971 giáo sư Phạm Liễu đã cho rằng cảnh Đào Nguyên là cảnh đẹp vô cùng lý tưởng. Bài thơ của Vương Duy dẫn chúng ta vào một khung cảnh thần tiên :

Chiếc thuyền câu đẩy đưa trên sông nước
Mê sắc trời núi đẹp xuân xa
Đôi bờ Đào Hoa, bến thuyền xưa ấy
Ngồi ngắm nhìn cây thắm không biết xa

Chốn suối hoa đào thần tiên đó mà có được, chẳng qua cũng chỉ là vì thi sĩ có quá nhiều gian khổ trong cuộc đời nêm phải tạo cho mình một nơi để ẩn lánh. Mộ nơi mà sau này thi bá Vũ Hoàng Chương bước vào phải lạc lối, người thơ của Tản Đà lên đường tới được thi, sau nữa năm tiên cảnh, một bước trần ai.... sẽ phãi giả biệt nơi cảnh đẹp lý tưởng đó với tiếng suối tiễn, tiếng oanh đưa.... và nếu chúng ta có tới được thì cũng chẳng ở được lâu, cũng giống như truyện hai chàng thư sinh mang họ Lưu, họ Nguyễn lạc vào cõi Thiên Thai vậy. Ở dưới trần thì mơ lên tiên cảnh. Ở tiên cảnh thì lại đòi về dương trần. Đó là thân phận con người la condition humanie.
Bài thơ của Tào Đường thì diễn tả hai chàng thư sinh đi hái thuốc, không ngờ lại tới được chốn Đào Nguyên :

Khe cây, lối đá nhận đường vào
Hoa cỏ không vương mẩy bụi nào
.......................................................
Nhìn dáng bóng mây quên việc trước
Trông chiều cây nước ngỡ chiêm bao
Muốn biết về đâu, non nước ấy
Hỏi thăm, lên tới suối hoa đào....

Người Sông Ngự/Văn Cao đã thú nhận rằng mìbh bị ảnh hưởng bởi sông nước của hai truyện Đào Nguyên & Thiên Thai cho nên đã soạn ra một bài hát. Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu. Nó vừa có tính chất trường ca vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu như hình thức ca khúc trong tân nhạc Vietnam cho tới năm 1994 vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định trong một số khung nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức nào đó.... thì bản thiên thai của Văn Cao đã vươn lên một hình thức rất lớn chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số 94 khuôn nhạc, chan chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu.
Với tài năng đã nở rộ, cùng với bước đi tới của tân nhạc, Văn Cao mô tả cảnh đầu của bài Thiên Thai của ông, cảnh hai chàng Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên :

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên ....

Sau khi mở ra tiếng hát của ai không biết, hát vang lừng trên sóng để đẩy đưa hai chàn Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên.... thì với một nét nhạc leo thang, Văn Cao vẽ ra con đường lên tiên, nơi nguồn hương duyên, theo gío bay lên với tiếng đàn xao xuyến.... Ngay trong cảnh đầu của bài ca, ngay từ khi con thuyền nào đó (con thuyền của Đào Nguyên Hành) đưa hai kẻ si tình này vào cõi mộng, Văn Cao chỉ nói tới "phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền, mấy cung trầm lắng, như nước reo mạn thuyền...." Tuyệt nhiên không có tả cảnh con đường lên tới suối hoa đào cũng không phải qua khe cây hay lối đá để nhận đường vào.... như trong bài thơ của Tào Đường. Tôi nghĩ đây là chiếc thuyền của anh Trương Chi mà Văn Cao đã cho hai chàng Nguỹen mượn tạm. Và những âm ba của giọng hát mà Văn Cao nói tới trong đoạn này đã làm cho hoa đào nơi suối tiên phải rụng cánh, có lẽ đó chính là tiếng hát của người thợ chày trên Sông Ngự, trong cuộc đời có thật hay trong cổ truyện lung linh vậy. Tiếng hát đưa đẩy con thuyền tình trôi trên nước ngọc tuyền, và người trên thuyền cũng thấy quê hương xa lấp núi ngàn như trong hai bản Đường Thi .... để gặp một tiếng hát khác, tiếng hát của bầy tiên bên bờ Đào Nguyên :

Âm ba, thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bấu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dầb xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước ngọc tuyền
Ai hát bên bờ đào nguyên.....

Trong đoạn này văn cao đã chuyển nét nhạc một cách rất là tài tình, dùng những nốt bán cung để di chuyển rất nhanh câu hát đi từ chủ âm mineure này qua chủ âm mineure khác, cho ta thấy được rất nhiều màu sắc của khung cảnh thần tiên này. Màu sắc ở đây không có gì là sặc sở, nó mơ hồ, nó nên thơ, nó huyền diệu....
Ai hát bên bờ Đào Nguyên ? Đó là bầy thiên tiên đang đứng hát chờ hai gả tình lang tại một nơi còn nguyên vẹn trinh tiết vì mùa Xuân ở đây chưa bao giờ gặp bướm trần gian tới làm cho Xuân phải ô uế, và mùa đào thì theo dòng ngày tháng chưa bao giờ phai tàn. Với một nhiệp điệu rất đẹp chạy dài từ bát độ trên xuống bát độ dưới, với một nhiệp điệu lẵng lơ nhưng thanh thoát, Văn cao cho chúng ta một đoản khúc có thể là khúc Nghê Thường mà ta vẫn nghe nói tới trong Đường Thi

Thiên Thai
Choín đây hoa Xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên tiên
Chúng em xin dân hai chàng trái đào thơm
Khúc Nghê Thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn....

Nhạc bổng sáng lên, chuyển qua giọng majeure nhưng lời ca thò vẫn nói tới tiếng đàn, tiếng nhạc. Tuyệt nhiên không nói tới người. Bầy tiên chỉ là hư ảnh. Biết đâu, ngay cả hai chàng Lưu Nguyễn cũng không có mặt trong bài ca? Nốt nhạc lại chuyển vội về giọng mineure để nói rằng tiếng đàn xui chúng ta quên đời dương thế, đàn non tiếng cũng biết khao khác cuộc tình duyên :

Đàn soi trăng lên, nhạc lắng tiếng quyên
Đây đó nỗu lòng mong nhớ
Này khúc Bồng Lai
Là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên, đàn khao khác khúc tình duyên

Cho mãi tới bây giờ Văn Cao mới hé cho ta thấy cuộc ái ân nổi dậy giữa người tiên người phàm bằng cách quay lại với nhạc đề chính trong bài ca :

Thiên Thai
Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em.ngờ phút mê cuồn có một lần

Đàn phách lại nổi lên. Nhạc Văn Cao rộn rã một cách khác thường. Gío hắt đi những tiếng hát. Những tiếng hát này sẽ làm se lòng người mỗi khi được nghe lại. Lưu Nguyễn quên Trần Hoàn rồi. Họ cùng bầy tiên đàn ca một vài ba thế kỷ :

Gío hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách rồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ khi chiều nào ra khơi
Chắc không đường về tiên nữ ơi

Rồi cũng với nhạc đề này, Văn cao nói tới sự quay trở lại đường tiên của hai ông cụ già Lưu Nguyễn nhưng than ôi, Đào Nguyên đã biến mất rồi chỉ còn rền lại tiếng ca của cỏi tiên :

Gío hát trầm tiếng ca
Tiếng phách rồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao
Nhớ khi chiều ta trăng lên
Tiếng cs còn rền trên cỏi tiên

Tuy viết ra một bản hát vừa có tính trường ca, vừa có tính nhạc cảnh, nhưng Văn Cao không tả thực trong bài Thiên Thai này. Tất cả những hình ảnh chính của câu truyện cổ như hai chàng Lưu Nguyễn, bầy tiên hoặc những cảnh vật như suối hoa đào, chiếc thuyền lan, nước ngọc tuyền, đều được miêu tả một cách rất mơ hồ.... giống như là trong một giấc mộng vậy. Ta biết có con thuyền chở Lưu Nguyễn tới cỏi Thiên Thai, ta biết có bầy thiên tiên múa hát dâng trái đào thơm.... nhưng không thấy được họ. Khi cùng người yêu xây được ngôi nhà cỏ bên suối mơ hay trước bến xuân với hai tình khúc trước, thì Văn Cao có thể mời đón chúng ta bước vào căn nhà bên chiếc cầu soi nước để ngồi nhìn đàn nai đùa trên đống lá vàng tươi. Nhưng trong Thiên Thai, cõi mơ của Văn Cao, chúng ta không thể nào bước vào cái vườn cấm này được. Đây là cõi riêng của người sông ngự. Nhưng ta lain được tự do tuyệt đối để nghe lên toàn thể tiếng đàn, tiếng hát vút lên từ đầu tới cuối của trường khúc Thiên Thai này, tiếng đàn, tiếng hát mà tôi đã cho là của anh trương chi trong truyện cổ của chúng ta, và nhạc sĩ Văn Cao đã cho Thiên Thai mượn tam. Thiên Thai là cõi riêng của Văn Cao.

Buồn vui đời nhạc công không chuyên

"Bài hát kết thúc với những tiếng vỗ tay, những bó hoa…không dành cho họ. Lặng lẽ đứng sau vinh quang cùng bao trăn trở, buồn nhiều hơn vui trong cuộc sống, những nhạc công vẫn say sưa dệt nên những giai điệu đẹp, cho tiếng hát thêm sâu lắng, ngân vang." Có “máu” văn nghệ Nói “nhạc công không chuyên” là nói về những người chơi nhạc cho các ban nhạc tự phát, do một “ông bầu” hoặc người nào đó có chút vốn cộng với “máu”…văn nghệ lập ra. Sau đó chuyên nhận “sô” hát cho đám cưới, đám tang hoặc phối hợp cộng tác với các tụ điểm nhậu nhẹt, nhà hàng, cà phê có thêm giấy phép kinh doanh “nhạc sống” hoặc “hát với nhau”. Anh Nguyễn Văn Hoàng, một tay nhạc công năm nay 52 tuổi với gần 20 năm trong nghề, có biệt tài chơi rất giỏi các điệu dân ca Nam bộ, từng giao lại mấy héc-ta cao su tiểu điền ở quê nhà Tân Phước Khánh (Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) cho vợ con canh tác rồi bỏ tiền sắm sẵn cho mình một cây organ Yamaha “xịn”, bắt đầu chiêu mộ “nhân tài” mở ban nhạc Hoàng Văn. Thời gian sau, có lẽ “tiếng lành đồn xa” đã đưa anh Nguyễn Đình Lịch, 43 tuổi, từng là tay guitar của các đoàn ca nhạc tạp kỹ, cải lương… ở bên tỉnh Đồng Nai xin được về “đầu quân”. Anh được anh Hoàng giao đánh solo mỗi đêm thứ bảy, chủ nhật ở một vài quán cà phê, quán nhậu có “hát với nhau”, còn những hôm khác nếu có “sô” đám cưới, đám ma sẽ được gọi đi làm “đột xuất”. Trong ban nhạc Hoàng Văn còn có anh Trần Đại Lộc, một tay đàn cổ vốn trước đây chỉ chơi đờn ca tài tử ở Thủ Đức (TP.HCM), nếu thời gian không phải đi đánh đàn thì anh hành nghề chay xe Honda “ôm” loanh quanh khu công nghiệp Sóng Thần 1. Khi công việc chính thức kết thúc vào lúc gần 23 giờ khuya, anh Hoàng bèn đổ thùng “tiền bông”, đếm được tổng cộng 1 triệu 120 nghìn đồng, bèn chi trả tiền cho “em-xi” (người dẫn chương trình) 120 nghìn đồng, tiền ca sĩ (hai người, 400 ngàn đồng), tiền thuê dàn âm thanh (của một nơi chuyên cho thuê dàn tại Thủ Đức) 200 nghìn đồng, tiền cho tay chơi guitar 150 nghìn đồng, trả tiền xăng xe 50 nghìn đồng, còn lại đúng 200 nghìn đồng bỏ… túi riêng. Sống nhờ tiền “bông” Anh Hoàng cho biết thêm: “bông” đây là tên gọi chung cho những cành hoa hồng bằng nhựa được nhét thêm vào đó những… tờ giấy bạc. Khi mới xuất hiện phong trào hát với nhau, chủ các quán cà phê, quán nhậu thường phải bỏ tiền thuê nhạc công đến đánh đàn để câu khách. Dần dà, khi thấy xuất hiện chuyện khách hay tặng hoa cho ca sĩ, “boa” tiền cho người chơi đàn… các chủ quán nhận ra rằng có thể dùng nguồn tiền “boa” này để trả công cho ban nhạc luôn và thế là hình thức tặng hoa kèm theo tiền ra đời và được giới nhạc công gọi là “tiền bông”. Hiện có ba hình thức sử dụng những đồng “tiền bông” này. Thứ nhất là chủ quán lấy hết và nhạc công chỉ được trả một khoản catsê cố định, có nơi tỏ ra hào phóng hơn khi thỏa thuận gửi lại nhạc công từ 30 – 50% “tiền bông”. Thứ hai, là bầu sô, như trường hợp anh Hoàng, đảm nhận làm chương trình ca nhạc sẽ thu giữ lại, sau đó có nhiệm vụ phải trả catsê cho nhạc công, ca sĩ hát lót, “em-xi”, trả tiền thuê dàn âm thanh, xe vận chuyển. Và cuối cùng, dạng khá hiếm, là nhạc công tự đứng ra nhận làm chương trình và vừa đàn vừa… hồi hộp nhìn theo “tốc độ và chất lượng” những cánh hoa có kẹp tiền do khách mang lên tặng. Những đêm vắng khách, “bông thấp” lèo tèo dĩ nhiên nhạc công “mặt chau mày dột” dù đang chơi toàn những bài bản nhạc vui! Chuyện nghề của nhạc công cũng vô số tình tiết cười ra nước mắt. Ví dụ như chuyện khách hàng hát rồi cự cãi lại nhạc công là chuyện thường ngày. Đánh đàn cho người biết hát thì dễ, còn đánh cho người vừa không biết hát lại vừa… “xỉn” mới rõ khổ! Tất nhiên, giới nhạc công quán nhậu ai cũng thuộc lòng câu “một câu nhịn là chín sự lành”. Cho dù khách hàng nói quàng xiên, trách móc hay chửi bới gì vẫn cứ “im lặng là vàng”. Có lẽ cũng vì không thuộc nằm lòng câu châm ngôn kể trên mà Tuấn Toàn – một tay chuyên chơi organ ở một quán nhậu nằm trên đường Tên Lửa, quận Tân Phú – dám cự cãi lại một ông khách và kết quả là anh nhận ngay một bạt tai từ vị khách đang say, tiếp theo còn bị chủ quán quyết định cho nghỉ việc!

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 1: CA SĨ THÁI THANH

Thái Thanh “ Một ca sĩ của dân tộc ”. Thái Thanh “ Một tiếng hát dâng hiến tâm tình ” Thái Thanh đã hát cho bao nhiêu thế hệ chúng ta, từ đầu thập niên 50, khi mới 17 tuổi, từ Bắc vào Nam, hơn 20 năm với quê hương chinh chiến.
Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, PhạmDuy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng.
Với 1 giọng ca trong trẻo, cao vút cùng một cách hát và nhả chữ không thể nhầm lẫn, tiếng hát Thái Thanh đã sống cùng trái tim yêu nhạc của bao người qua nhiều thế hệ. Tên tuổi Thái Thanh gắn liền với âm nhạc Phạm Duy & Phạm Đình Chương cùng những ca khúc sống mãi với thời gian: Ngày xưa Hoàng Thị, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau….
Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô congái út Phạm Thị Băng Thanh.
Thái Thanh lập gia đình với tài tử Lê Quỳnhvào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi.
Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh– Đêm Tái Ngộ năm 1986) và ghi âm một số CD với Trung tâm Diễm Xưa. Hai con gáicủa bà Ý Lan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”.

 Tiếng hát Thái Thanh là một âm vang thời cuộc, tiếng hát của bà không đơn thuần là một tiếng hát nữa, mà đã là một hiện vật lịch sử.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Phân tích nhạc phẩm Phôi Pha sáng tác Trịnh Công Sơn

"Phôi pha" là tên một nhạc phẩm nổi tiếng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhạc phẩm tả lại tâm tình của một người nhớ man mác về quá khứ với một người tình đã mờ nhạt trong trí ức, cũng như những chiêm nghiệm về thân phận con người trước sự hữu hạn của một kiếp sống. Về phần lời nhạc, những ý tưởng ngổn ngang về kiếp người được Trịnh Công Sơn khéo léo đưa vào để làm tăng thêm sức quyến rũ của giai điệu, vì vậy mục đích của tiểu luận này là để phân tích cấu trúc của bản nhạc nhằm hiểu rõ hơn nghệ thuật sáng tác nhạc của Trịnh Công Sơn. Xin nói ngay,người viết không được học qua nhạc lý trong một hệ thống đào tạo chính thức nào, chỉ tự học qua một vài quyển sách dạy cách sáng tác một bản nhạc mà thôi. Lý do chính của người viết là muốn qua việc thử phân tích thấu đáo một bản nhạc của Trịnh Công Sơn sẽ làm tan đi phần nàomột quan niệm của người thưởng ngoạn làTrịnh Công Sơn có một nhạc thuật hạn chế và dễ dãi.
"Phôi Pha" được viết căn bản với cấu trúc AABA, nhưng các đoạn A cũng không giống nhau, và B thì không hẳn là một điệp khúc, mà có tác dụng như một đoạn chuyển tiếp để trở lại đoạn A trước khi kết thúc bài hát. Ta sẽ đặt tên cho cấu trúc này là A A' B A''. Sau đây là phân tích từng đoạn.
Đoạn A:
Đoạn A mở đầu ngay với giai điệu chính của bản nhạc: "Ôm lòng đêm (Am)/ nhìn vầng trăng mới về (F)/ nhớ chân giang hồ (Em)". Đây chính là ý nhạc chính của bản này, làm cho ta phải nhớ về bản nhạc đó với âm hưởng "ôm lòng đêm" (đoạn A,)"đâu còn ai" (A') và sau cùng là "thôi về đi" (A''). Đây là một đặc điểm cần phải có của một bản nhạc để bản nhạc ấy được nổi tiếng. Các thí dụ khác của các "catchy tunes" này là "Trả lại em yêu ..." (Trả lại em yêu-Phạm Duy), "Em đi" (Em đi - Đức Huy), hay "Bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa .." (Giáng Ngọc - Ngô Thuỵ Miên). Cái ý nhạc chính này là "căn cước" (identity) của bản nhạc đó, làm cho nó không thể lẫn với bài nào khác được. Một nhận xét khác nữa là Trịnh Công Sơn có rất nhiều bài nhạc với các căn cước riêng biệt, mỗi căn cước lại có một nhịp điệu (rhythm) riêng, không bài nào giông giống bài nào. Các bài nhạc Trịnh Công Sơn khác như "Diễm Xưa", "Gọi Tên Bốn Mùa", "Chỉ Có Ta Trong Một Đời","Nắng Thuỷ Tinh", "Như Cánh Vạc Bay", v.v. là các thí dụ tiêu biểu khác về identity của bản nhạc.
Câu nhạc "Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ", về mặt nhạc thuật là một khởi đầu bằng một câu đảo quãng năm rồi trở về chủ âm la đoản (ôm lòng đêm), theo sau là hai đoạn ngắn liền nhau đi lên và sau đó đi xuống. Giống như ta nói chuyện vậy, ta nói chủ đề, rồi kể lể lên xuống mà không đổi quãng nhiều giữa các nốt nhạc sát nhau. Bài nhạc được viết ở âm giai đoản hoà điệu (harmonic minor -la si do re mi fa sol# la) là một thang âm rất được sử dụng trong nhạc TCS cũng như của các nhạc sĩ Việt Nam khác. Trái lại, theo sách "Writing Music for Hit Songs" thì nhạc Tây phương đương đại ít sử dụng thang âm này hơn, mà họ dùng Aeolian minor scale (la si do re mi fa# sol la.) Có lẽ vì vậy mà nhạc ta nói chung nghe khác nhạc Tây phương chăng?Trong câu nhạc kế tiếp (vẫn trong đoạn A,) Trịnh Công Sơn chọn cách phát triển ý nhạc bằng cách lặp lại nhịp điệu như ở hai trường canh đầu ("ôi phù du, từng tuổi xuân đã già") nhưng dùng những nốt nhạc cao hơn, sau đó phát triển tiếp nhịp điệu của "từng tuổi xuân đã già" thành "một ngày kia đến bờ" và trở nhanh về chủ âm với "đời người như gió qua". Câu hát ngắn nhưng chắc nịch như một lời phán quyết là đời sống cũng nhanh và ngắn ngủi hệt như vậy. Chỉ như vậy thôi, với hai câu hát ngắn, ta đi xong một đoạn của bài hát. Về phần lời nhạc, với một ý nhạc cộng với một biến thể của 1 ý nhạc đó, Trịnh Công Sơn mô tả xong hình ảnh một người ngắm trăng cùnglúc suy tư về bước chân giang hồ, cộng vớisự than vãn về một kiếp người chỉ phù du như một cơn gió qua.
Đoạn A':
Đoạn này kết cấu cũng như sự phát triển ý nhạc tương tự như đoạn A, sự khác biệt ở chỗ thay vì đi về chủ âm qua hợp âm thất trình áp âm (E7), thì Trịnh Công Sơn quay về âm thức (Do)trưởng tương ứng của âm thức đoản (Am) trước khi trở về chủ âm. Tuy Trịnh Công Sơn không hề gán hợp âm cho bản nhạc, vì hai chữ "chờ đợi", ta có thể dùng hợp âm tứ trình (F hay F Maj7) để đặt cho hai trường canh này, tạo nền cho một chuyển động mạnh hơn ở điệp khúc.
Điệp Khúc:
Không như các điệp khúc khác có thể thấy rõ rệt sự khác biệt của hai ý nhạc ("Hoa Vàng Mấy Độ" là một ví dụ như vậy - từ âm giai Mi đoản chuyển sang Mi Trưởng), điệpkhúc của bài nhạc này giống như một đoạn nhạc chuyển tiếp (bridge) hơn để chuyển về đoạn A''. Đoạn nhạc bắt đầu ngay với hai trường canh ở hợp âm thất trình áp âm ("Về ngồi trong những ngày, nhìn từng hôm nắng ngời" - E7), xong chuyển qua âm thức trưởng tương ứng (C). Trịnh Công Sơn sử dụng lối dùng nốt rải (appergios) để nhấn mạnh ý nhạc này. Một chú ý khác là sau khi dùng liên tiếp 3 câu nhạc ngắn như vậy, Trịnh Công Sơn đã cânđối lại phần trước bằng cách dùng liên tiếp6 nốt "eight note" và hai nốt "quarter note" ("có những ai xa đời quay về lại") để kéo dài, "gằn" câu nhạc xuống, hay trong bài này thì tỏ ý ước muốn người tình xưa trở về lại. Tiếp theo, Trịnh Công Sơn làm cho lời bài nhạc đã xa vắng càng thêm chất ngất với việc làm chậm lại và ý nhạc đi lên đến hợp âm thất trình áp âm lần nữa ("Về lại nơi cuối trời, làn mây ..... trôi ...")
Đoạn A'':
Trịnh Công Sơn cho người thưởng ngoạn một ngạc nhiên nho nhỏ và lý thú là ở chỗ ý nhạc chính "Thôi về đi", ngoài việc ở đầu câu như hai đoạn trước (A và A'), còn là sự trở về âm chính La thứ sau cao trào của đoạn trên. Đặt lời với "thôi về đi" như vậy, đã là một sử dụng nhạc thuật rất tài tình để đoan chắc với thính giả là "thôi về đi" là một hệ quả tất yếu, không còn hoài nghi gì nữa. So sánh cái "về" này với cái về trong "Ừ thôi em về" ("Cuối cùng cho một tình yêu" Trịnh Công Sơn/Trịnh Cung) ta mới thấy chúng khác nhau làm sao! Một bên đoan quyết, còn một bên thì "dùng dằng nửa ở nửa về" do chỗ đặt của từng chỗ đứng của chữ "về" trong câu nhạc.
Để kết thúc bản nhạc này, thay vì đi liền tới E7 như trong đoạn A, Trịnh Công Sơn đã khéo léo dắt ta qua F trước khi về E7 và sau cùng trở về cung chủ âm Am. Có thể nói Trịnh Công Sơn đã dùng một giai kết thật lơ lửng nhưng liền lạc và rất phù hợp với ca từ "bàn chân ai rất nhẹ, tựa hồn những năm xưa.
"Một chi tiết khác:
Một chi tiết đáng lưu ý là sự xuất hiện nhiều lần chữ "về" (7 lần.) Sự lặp lại này có thể được gọi là một sự nghèo nàn trong vốn từ, hay là một chủ đích của tác giả về một mơ ước của một sự trở vầ nào đó, hay chỉ là một nỗi cô đơn vốn có của tác giả hiện lên không chủ đích (unconsiously)? Nếu người viết bài này không nói ra chi tiết này thì bạn có cảm thấy có sự trùng lặp trong ca từ không, hay Trịnh Công Sơn đã thật sự khéo léo trong việc "ngụy trang" các từ này?
Sự khéo léo này, theo tôi nghĩ, có lẽ là ở chỗ khi nào muốn nhấn mạnh chữ "về", thì Trịnh Công Sơn hoặc dùng một quãng nhảy đảo xa (thôi "về" đi - quãng 5), hoặc là đặt nó vào nhịp mạnh (nhìn vầng trăng mới "về", vườn khuya bước "về" - nhịp 1), hoặc cho nó bắt đầu của một hợp âm rải (appergio) đi lên ("Về" ngồi trong những ngày, "Về" lại nơi cuối trời - hợp âm la thứ.). Các chữ "về" còn lại thì lẩn trong các nốt tạm (passing notes) của một cung nhạc đi lên (đường "về" ôi quá dài,) hay đi xuống (xa đời quay "về" lại.)Nhân tiện đây, ta hãy thử tìm hiểu tại sao nó trùng lặp rất nhiều, mà ta không thấy chán. Người viết nghĩ là vì tiếng Việt mình có đặc điểm gần giống như tiếng Anh là dùng chữ kép (Anh ngữ thì có động từ với prepositions như get on, get away, get in, get out, v.v. mà chỉ nguời bản địa mới hiểu nổi chúng có ý nghĩa thật sự ra sao.) Ta thấy "về" ở đây ngoài nghĩa chính, cũng còn được kết hợp để làm rõ thêm ý của các danh từ khác như "đường" về, "bước" về. Động từ "về" cũng được thêm vào để làm rõ nghĩa chẳng hạn như "mới" về. Lại còn truờng hợp "về" và "đi" nằm sát cạnh nhau như trong "Thôi về đi", thì truờng hợp này chữ "đi" được khéo léo dùng làm một chữ để nói lên sự thuyết phục, và cách bởi chữ đi một quãng năm, rất tự nhiên như mình nói chuyện hằng ngày vậy.
Như vậy, khi đặt một bản nhạc, ta chỉ cần biết phải làm thế nào cho nó không trùng lặp ý nhạc, ý ca từ với các bài nhạc khác của ta mà thôi, còn các "linh tinh" khác như cách xử dụng lặp đi lặp lại chữ "về" đề đạt một mục đích nào đó cho bản nhạc, là một việc cần phải làm và không nên dè dặt trong việc sử dụng chúng.
Kết luận
Ta có thể nói là trong nhạc phẩm "Phôi Pha" này, Trịnh Công Sơn chứng tỏ ông có một nghệ thuật đặt câu rất vững, không thừa không thiếu. Nếu chỉ nhìn thoảng quabài hát này cũng như một số ca khúc nổi tiếng khác cũng của Trịnh Công Sơn, ta có thể hời hợt đánh giá là nhạc của ông đơn giản, và nhạc thuật của ông không có gì cả. Nhưng thật ra, sự đơn giản ấy có được vì đã qua một sự sắp xếp chọn lựa cẩn trọng, với những quyết định phát triển ý nhạc phù hợp với ý nghĩa của lời nhạc. Để trở thành một nhạc sĩ tên tuổi, nhạc thuật phải vững vàng, và hy vọng qua bài này người đọc sẽ đồng ý với người viết là Trịnh Công Sơn rất giỏi về mặt này.