Từ khi tân nhạc ra đời chúng ta đã có một loại nhạc mà đặt tính là lãng mạn, qua các tác phẩm của Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương, Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn.... Tất cả những bản nhạc tình đó, cũng giống như nền thơ mới Vietnam lúc bấy giờ, bị ảnh văn chương và thi ca lãng mạn Pháp. Cụ thể mà nói, những người viết nhạc đầu tiên của Vietnam đều theo lãng mạn tính theo cá nhân và chủ nghĩa Pháp.
Chẳng khác chi những i sĩ trẻ vào lúc đó, Văn Cao cũng bị mùa thu ám ảnh cho nên những bản nhạc tình lãng mạn đầu tiên của ông đều nói tới mùa thu. Những bài như Thu cô liêu, Buồn tàn thu còn pha trộn thêm cái buồn của Đông Phương. Lời ca của Thu cô liêu nghe như bài thơ đường:
Thu cô liêu tịch liêu cô thôn chiều
Ta yêu thu, yêu thu, yêu mùa thu
Vàng hoen đáy nước, son rõ đường đi
Một mùa thi, một mùa thi
Lá xanh rơi rụng buồn chi lá vạng....
Nhac điệu thì theo chủ thể tây phương (musicque tonale) với những áp âm (notes sensibles) làm cho nét nhạc có nhiều cảm tính. Nhiệp điệu là thể valse đầy lưu luyến và cũng đầy luyến tiêc :
Trăng ấp lạnh non sương cứng lã
Đa từng nghe rõ biết thu sang
Hồn theo cánh gío lướt bay tìm em
Một chiều êm, một chiều êm....
Cũng với thuật này Văn Cao soạn Cung đàn xưa, lần này thì nói tới mùa xuân nhưng lại là một mùa xuân đã tàn, đã chết. Tuy là một bài háy ngắn, nhưng Văn Cao cũng chia ra làm 4 đoản khúc rõ ràng. Đoạn đầy nói tới cung đàn năm xưa:
Hồn cầm phong hương hình bóng xuân tàn
Ngày dần buông trôi sầu vắng cung đàn
Lời đàn năm xưa se kết đôi lòng
Lời đàn năm nay chia rẽ đôi lòng....
Đoạn 2 nói đến cung Thương, cung Nam mà Lê Thương và Phạm Duy cũng đều nói tới qua những bài Tiếng đàn xuân, khối tình trương chi. Cung thương là tiếng đàn
Cung nam là tiếng người
Ai oán khúc ca cầm chìm rơi
Tình duyên lãng đãng nhớ thương dần pha phôi.....
Đoạn 3 chuyển qua một nhiệp điêu khác, nói tới sự buồn rầu trong cung đàn xưa :
Cung đàn ngân
Buồn xa vắng trong tiếng thầm
Buồn tê tái trong tiếng ngân
Buồn như lúc xuân xắp tàn
Ôi đàn xưa
Còn vang nhắc chi đến người
Lòng ta tắt bao thắm tươi
U hoài duyên đưa...
Thì ra tất cả ba đoạn nói tới một cung đàn xưa đó chỉ muống nhắc tới một người mà Văn Cao diễn tả một cách tuyệt mỹ, một người tình tưởng tượng có đôi mắt giữ lại mùa xuân, có đôi chân đi tới đâu hoa nở tới đó, có thân hình thơm hương, có tiếng nói khơi dậy thương yêu... kiến cho hiện thân của anh Trương Chi là Văn Cao đó bây giờ phải cất lên tiếng đàn giao hoan và dệt nên không biết bao nhiêu là mộng mị:
Chiều năm xưa, gót giày khai hoa
Mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương
Chiều năm nay tiếng người khơi thương
Tiếng đàn giao hoan giấc mộng chàng Trương.....
Bài hát sẽ trở lại đoạn đầu để hết.
Tôi muốn nói tới hai bài Thu cô liêu, Cung đàn xưa này là vì, đáng tiếc thay, rất ít người biết tới những bản nhạc tình đầu tay của Văn Cao, trong đó ta đã thấy manh nha những hình ảnh, những ý tình, những cái đẹp mà Văn Cai sẽ phát triển độ trong hai bài ca bất hủ là Thiên thai và Trương chi. Những cô hái mơ, cô bán hoa, cô hàng nước, cô lái đò, cô láng giềng.... mà ta thấy xuất hiện trong các bản nhạc tình thuở đó, làm sao mà có được những gót gày khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương.... như trong bản cung đàn xưa của Văn Cao? Chỉ cần có 12 chử, và dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng mà thôi, Văn Cao đã đưa nhạc tình tiền chiến lên tới một cao độ vượt khỏi những khuôn sáo củ mèm.
Sau những bản nhạc tình đầu tay xuất sắc như vậy, Văn Cao soạn Suối mơ và Bến xuân. Lúc đó chưa ai có thể mô tả cái đẹp của con suối thu như Văn Cao :
Suối mơ
Bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng
Ngày chưa đi sao gío vương
Bờ xanh ngắt bóng đôi cây thùy dương....
Hoặc người đẹp trong Bến Xuân
Tới đây mây dừng bước ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước ...
...............................................................
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng ...
Trong cả hai bài nhạc tình về mùa thu và mùa xuân này, bao giờ nét nhạc mineure mở đầu cũng rất lâng lâng rồi cũng sẽ chuyển qua một nét nhạc majeure ngắn để diển tả niềm vui thoáng qua. HÌnh ảnh người tình trong cả hai bài hát này đều rất lộng lẫy, cao sang. Tình cảm của cả hai bài nhạc tình đều không dồn con người vào cõi u tối, trái lại còn làm cho người nghe thấu nguôi ngoai sảng khoái. Con suối trong rừng thu buồn muôn thuở là vì còn lưu luyến hương vị tình yêu chúng ta :
Suối ơi
Nghe rừng heo hút
Dòng em đưa lá khô già rút
Còn như lưu hương yếu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu ?
Đứng trên bến Xuân để nhìn cánh buồn xa và nghe tiếng chim ca lưu luyến cuộc tình vừa qua của chúng ta :
Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Ôi cánh buồn nâu còn trên lớp sóng xuân
Ai tha huong nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mâu thiết tha
Lưu luyến tình vừa qua....
Văn Cao nổi danh rất sớm vì một bài hát về mùa thu là bài Buồn tàn thu (khi ra bài này Văn Cao đã đề tặng Phạm Duy : tương tiến PD người du ca gieo giắc nhạc buồn của tôi), nhưng bài này không có giá trị về nghệ thuật cao bằng những bài tôi vừa nói tới. Vì Buồn tàn thu được hát trên sân khấu gánh hát rong trên đài phát thanh Saigon trong nhỹngw năm 1943 - 1945 là lúc tân nhạc còn mới phôi thai, cho nên nó được phổ biến nhiều hơn là Thu cô liêu hay Cung đàn xưa.... Những bài tình ca nhỏ nhặt đó sẽ bị mờ đi khi Thiên thai & Truong chi ra đời. Với tôi tài năng đã đến độ chín mùi, Văn Cao sẽ dắt ta tơí đỉnh cao nhất của ái tình cũng như sẽ đưa ta vào cỏi sâu thẩm nhất của khổ đau với hai câu truyện dân gian biến thành hai bản tình ca muôn thuở.
THIÊN THAI
tôi đã có diệp nói đến không khí Đường thi trong nhạc Văn Cao, nghĩa là nói tới chất thơ trong sáng, cô động ngay từ những bản tân nhạc đầu tiên của ông. Ta thấy những bài Thu cô liêu, buồn tàn thu... như có vẽ thoát ra từ khung cảnh Thu Hứng của Đỗ Phủ. Nghe câu hát trong bài cung đàn xưa "chiều năm xưa gót hài khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng nồng thơm hương".... thì ta nghe như một câu thơ của Thôi Hiệu.... nhưng trong thời kỳ hình thành và phát triển của tân nhạc Văn Cao cũng không phải là chàng nhạc sĩ trẻ tuổi độc nhất bị ảnh hưởng của thơ Đường. Nhạc sũ Lê Thương mà đã chẳng biết dùng khung cảnh TRĂNG QUAN SAN của Lý Bạch để soạn ra câu hát "qua thiên san kìa ai tiễ rựu vừa tàn" khiến cho 3 bản hòn vọng phu của ông đã trở nên bất diệt đó à? Có lẽ cũng cảm thấy ma lực của Đường Thi trong tân nhạc cho nên về sau này nhạc sĩ Phạm Duy cũng mượng không khí "Cô tô thành ngoại Hàn San Tự - Dạ ván cung thanh đáo khách thuyền" của Trương Kế để soạn ra câu hát trên sông Lô : "Thuyền tôi đậu bến sông Lô - Nửa đêm nghe tiếng quân thù thở than" .... Nếu chúng ta đi xa thêm vào dĩ vãng, ta lại còn thấy trong truyền thống hát Ả Đào, những bài thơ như Tương Tiến Tửu, Tiền Hậu Xích Bích.... của thơ đường Vietnam đã trở thành những điệu hát hoàn toàn Vietnam. Còn trong sân khấu cải lương Vietnam cũng có hẳn một điệu hát gọi là Dạ Bán Chung Thinh. Ai cũng ảnh hưởng bởi đường thi mà chẳng nói ra hay chưa có dịp để nói ra. Nhưng với bài Thiên thai ra đời năm 1944 thì Văn Cao đã không ngần ngại viết mấy câu đề tựa như sau :
Ảnh hưởng sông nứơc khúc Thiên Thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên Thai và Đào Nguyên. Người sông ngự đã lạc cảm xúc rồi. Mùa xuân năm giáp thân. Văn Cao.
Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên
Kìa nguồn hương duyên
Theo gío tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến
Mấy cung u huyền
Mấy cung trầm lắng
Như nước reo mạn thuyền ....
Ta hảy thử xem những bài thơ đường mà Văn Cao vừa kể ra như Đào Nguyên Hành của Vương Duy và Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai của Tào Đường đã có những gì để khiến cho người nhạc sĩ mang thêm bí danh Người Sông Ngự nàu đã lạc cảm xúc? Trong cuốn Đường Thi in tại Saigon vào năm 1971 giáo sư Phạm Liễu đã cho rằng cảnh Đào Nguyên là cảnh đẹp vô cùng lý tưởng. Bài thơ của Vương Duy dẫn chúng ta vào một khung cảnh thần tiên :
Chiếc thuyền câu đẩy đưa trên sông nước
Mê sắc trời núi đẹp xuân xa
Đôi bờ Đào Hoa, bến thuyền xưa ấy
Ngồi ngắm nhìn cây thắm không biết xa
Chốn suối hoa đào thần tiên đó mà có được, chẳng qua cũng chỉ là vì thi sĩ có quá nhiều gian khổ trong cuộc đời nêm phải tạo cho mình một nơi để ẩn lánh. Mộ nơi mà sau này thi bá Vũ Hoàng Chương bước vào phải lạc lối, người thơ của Tản Đà lên đường tới được thi, sau nữa năm tiên cảnh, một bước trần ai.... sẽ phãi giả biệt nơi cảnh đẹp lý tưởng đó với tiếng suối tiễn, tiếng oanh đưa.... và nếu chúng ta có tới được thì cũng chẳng ở được lâu, cũng giống như truyện hai chàng thư sinh mang họ Lưu, họ Nguyễn lạc vào cõi Thiên Thai vậy. Ở dưới trần thì mơ lên tiên cảnh. Ở tiên cảnh thì lại đòi về dương trần. Đó là thân phận con người la condition humanie.
Bài thơ của Tào Đường thì diễn tả hai chàng thư sinh đi hái thuốc, không ngờ lại tới được chốn Đào Nguyên :
Khe cây, lối đá nhận đường vào
Hoa cỏ không vương mẩy bụi nào
.......................................................
Nhìn dáng bóng mây quên việc trước
Trông chiều cây nước ngỡ chiêm bao
Muốn biết về đâu, non nước ấy
Hỏi thăm, lên tới suối hoa đào....
Người Sông Ngự/Văn Cao đã thú nhận rằng mìbh bị ảnh hưởng bởi sông nước của hai truyện Đào Nguyên & Thiên Thai cho nên đã soạn ra một bài hát. Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu. Nó vừa có tính chất trường ca vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu như hình thức ca khúc trong tân nhạc Vietnam cho tới năm 1994 vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định trong một số khung nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức nào đó.... thì bản thiên thai của Văn Cao đã vươn lên một hình thức rất lớn chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số 94 khuôn nhạc, chan chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu.
Với tài năng đã nở rộ, cùng với bước đi tới của tân nhạc, Văn Cao mô tả cảnh đầu của bài Thiên Thai của ông, cảnh hai chàng Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên :
Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên ....
Sau khi mở ra tiếng hát của ai không biết, hát vang lừng trên sóng để đẩy đưa hai chàn Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên.... thì với một nét nhạc leo thang, Văn Cao vẽ ra con đường lên tiên, nơi nguồn hương duyên, theo gío bay lên với tiếng đàn xao xuyến.... Ngay trong cảnh đầu của bài ca, ngay từ khi con thuyền nào đó (con thuyền của Đào Nguyên Hành) đưa hai kẻ si tình này vào cõi mộng, Văn Cao chỉ nói tới "phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền, mấy cung trầm lắng, như nước reo mạn thuyền...." Tuyệt nhiên không có tả cảnh con đường lên tới suối hoa đào cũng không phải qua khe cây hay lối đá để nhận đường vào.... như trong bài thơ của Tào Đường. Tôi nghĩ đây là chiếc thuyền của anh Trương Chi mà Văn Cao đã cho hai chàng Nguỹen mượn tạm. Và những âm ba của giọng hát mà Văn Cao nói tới trong đoạn này đã làm cho hoa đào nơi suối tiên phải rụng cánh, có lẽ đó chính là tiếng hát của người thợ chày trên Sông Ngự, trong cuộc đời có thật hay trong cổ truyện lung linh vậy. Tiếng hát đưa đẩy con thuyền tình trôi trên nước ngọc tuyền, và người trên thuyền cũng thấy quê hương xa lấp núi ngàn như trong hai bản Đường Thi .... để gặp một tiếng hát khác, tiếng hát của bầy tiên bên bờ Đào Nguyên :
Âm ba, thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bấu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dầb xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước ngọc tuyền
Ai hát bên bờ đào nguyên.....
Trong đoạn này văn cao đã chuyển nét nhạc một cách rất là tài tình, dùng những nốt bán cung để di chuyển rất nhanh câu hát đi từ chủ âm mineure này qua chủ âm mineure khác, cho ta thấy được rất nhiều màu sắc của khung cảnh thần tiên này. Màu sắc ở đây không có gì là sặc sở, nó mơ hồ, nó nên thơ, nó huyền diệu....
Ai hát bên bờ Đào Nguyên ? Đó là bầy thiên tiên đang đứng hát chờ hai gả tình lang tại một nơi còn nguyên vẹn trinh tiết vì mùa Xuân ở đây chưa bao giờ gặp bướm trần gian tới làm cho Xuân phải ô uế, và mùa đào thì theo dòng ngày tháng chưa bao giờ phai tàn. Với một nhiệp điệu rất đẹp chạy dài từ bát độ trên xuống bát độ dưới, với một nhiệp điệu lẵng lơ nhưng thanh thoát, Văn cao cho chúng ta một đoản khúc có thể là khúc Nghê Thường mà ta vẫn nghe nói tới trong Đường Thi
Thiên Thai
Choín đây hoa Xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên tiên
Chúng em xin dân hai chàng trái đào thơm
Khúc Nghê Thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn....
Nhạc bổng sáng lên, chuyển qua giọng majeure nhưng lời ca thò vẫn nói tới tiếng đàn, tiếng nhạc. Tuyệt nhiên không nói tới người. Bầy tiên chỉ là hư ảnh. Biết đâu, ngay cả hai chàng Lưu Nguyễn cũng không có mặt trong bài ca? Nốt nhạc lại chuyển vội về giọng mineure để nói rằng tiếng đàn xui chúng ta quên đời dương thế, đàn non tiếng cũng biết khao khác cuộc tình duyên :
Đàn soi trăng lên, nhạc lắng tiếng quyên
Đây đó nỗu lòng mong nhớ
Này khúc Bồng Lai
Là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên, đàn khao khác khúc tình duyên
Cho mãi tới bây giờ Văn Cao mới hé cho ta thấy cuộc ái ân nổi dậy giữa người tiên người phàm bằng cách quay lại với nhạc đề chính trong bài ca :
Thiên Thai
Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em.ngờ phút mê cuồn có một lần
Đàn phách lại nổi lên. Nhạc Văn Cao rộn rã một cách khác thường. Gío hắt đi những tiếng hát. Những tiếng hát này sẽ làm se lòng người mỗi khi được nghe lại. Lưu Nguyễn quên Trần Hoàn rồi. Họ cùng bầy tiên đàn ca một vài ba thế kỷ :
Gío hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách rồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ khi chiều nào ra khơi
Chắc không đường về tiên nữ ơi
Rồi cũng với nhạc đề này, Văn cao nói tới sự quay trở lại đường tiên của hai ông cụ già Lưu Nguyễn nhưng than ôi, Đào Nguyên đã biến mất rồi chỉ còn rền lại tiếng ca của cỏi tiên :
Gío hát trầm tiếng ca
Tiếng phách rồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao
Nhớ khi chiều ta trăng lên
Tiếng cs còn rền trên cỏi tiên
Tuy viết ra một bản hát vừa có tính trường ca, vừa có tính nhạc cảnh, nhưng Văn Cao không tả thực trong bài Thiên Thai này. Tất cả những hình ảnh chính của câu truyện cổ như hai chàng Lưu Nguyễn, bầy tiên hoặc những cảnh vật như suối hoa đào, chiếc thuyền lan, nước ngọc tuyền, đều được miêu tả một cách rất mơ hồ.... giống như là trong một giấc mộng vậy. Ta biết có con thuyền chở Lưu Nguyễn tới cỏi Thiên Thai, ta biết có bầy thiên tiên múa hát dâng trái đào thơm.... nhưng không thấy được họ. Khi cùng người yêu xây được ngôi nhà cỏ bên suối mơ hay trước bến xuân với hai tình khúc trước, thì Văn Cao có thể mời đón chúng ta bước vào căn nhà bên chiếc cầu soi nước để ngồi nhìn đàn nai đùa trên đống lá vàng tươi. Nhưng trong Thiên Thai, cõi mơ của Văn Cao, chúng ta không thể nào bước vào cái vườn cấm này được. Đây là cõi riêng của người sông ngự. Nhưng ta lain được tự do tuyệt đối để nghe lên toàn thể tiếng đàn, tiếng hát vút lên từ đầu tới cuối của trường khúc Thiên Thai này, tiếng đàn, tiếng hát mà tôi đã cho là của anh trương chi trong truyện cổ của chúng ta, và nhạc sĩ Văn Cao đã cho Thiên Thai mượn tam. Thiên Thai là cõi riêng của Văn Cao.