Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Danh Ca Minh Trang


Như một định mệnh, cô bé Nguyễn thị Ngọc Trâm chào đời ngày 18 tháng 8 năm 1921 tại một
nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự, thành phố Huế. Hai mươi lăm năm sau, một khúc hát
bất hủ mang tên "Đêm Tàn Bến Ngự" ra đời, được viết nên bởi một nhạc sĩ tài hoa, đã gắn
liền với tên cô , ngày nay đã trở thành một danh ca mang tên Minh Trang. Tác giả bản nhạc
đó là Dương Thiệu Tước, cũng là người chồng sau này của cô, cả hai đã tạo nên một gia đình
âm nhạc và để lại cho thế gian những tình khúc bất tử.
Ở Huế vào cuối thế kỷ 19, người ta biết nhiều tới Mỹ Lương Công Chúa hay Bà Chúa Nhứt, là
chị ruột của Vua Thành Thái. Bà là người giòng giõi nhưng không câu nệ, tính rất nghệ sĩ.
Trong nhà bà Chúa có nuôi hẳn mộät ban hát tới mấy chục người và có riêng một ban ca Huế.
Vị công chúa đóù là bà ngoại của ca sĩ Minh Trang, do đó khi lớn lên, vì thân phụ là cụ
Nguyễn Hy nhiều khi phải đáo nhậm những nhiệm sở xa, bà Minh Trang có dịp được gần gũi
với bên ngoại. Nhờ những âm thanh ca Huế thấm nhuần vào tâm hồn trong tuổi ấu thơ, mới
bảy tám tuôåi, bà đã thuộc những bài cổ nhạc, ca Huế như những khúc Nam Ai, Nam Bình,
Kim Tiền, Lưu Thủy...Tuy nói giọng Quảng vì thân phụ bà là gốc người Quảng Ngãi, chất Huế
trong người bà đã khiến cho bà hát bản "Đêm Tàn Bến Ngự" một cách dễ dàng như chính tác
giả đã viết bài này ra để dành riêng cho cho bà, người ca sĩ, đó là Minh Trang.
Lớn lên trong khung cảnh của một danh gia vọng tộc một thời ở đất thần kinh, cũng như
những gia đình khác có lẽ tân nhạc vẫn còn là một điều gì mới mẻ, tuy vậy bà Minh Trang là
người sớm hấp thụ nền văn hóa tây phương. Lúc nhỏ bà theo học trường Jeanne d' Arc, một
trường giòng danh tiếng ở Huế và đã bắt đầu làm quen với những phím dương cầm từ đó.
Lên trung học, bà theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng 1941, thân phụ bà về nhậm chức tại
Bộ Lại (tức là bộ Nội Vụ) tại Huế, bà lại theo về học tại Lycée Khải Định. Tại đây bà gặp một
ông thầy dạy Việt Văn là ông Ưng Quả, cũng là vị "phụ giáo" của triều đình Huế (dạy thái tử
Bảo Long). Hai người, một thầy, một trò đã tỏ ra tâm đầu ý hợp và tiến đến hôn nhân. Tuy lúc
đó Thầy Ưng Quả là một người đàn ông góa vợ đã có hai con trai, nhưng cả hai gia đình đều
là những gia đình quyền quí ở Huế, thầy Ưng Quả là cháu nội của Tuy Lý Vương, bà Minh
Trang là cháu nội của Diên Lộc Quận Công, phải nói là rất "môn đăng hộ đối". Hai người sinh
hạ được một trai là Bửu Minh và một gái là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, (tức là ca sĩ
Quỳnh Giao). Bà dùng tên của hai người con ghép lại để làm nên cái tên âm nhạc cho mình.
Năm 1951, giáo sư Ưng Quả, lúc đó là Giám Đốc Nha Học Chính Trung Phần qua đời, bà
Minh Trang đem hai con vào Saigon, và kiếm được một việc làm tại Đài Phát Thanh Pháp Á
(France-Asie), vừa là xướng ngôn viên vừa làm biên tập tin tức bằng tiếng Pháp. Sự việc
Minh Trang trở thành ca sĩ cũng là chuyện tình cờ không tính trước, trong chương trình ca
nhạc của nhạc sĩ Đức Quỳnh, vì ca sĩ chính không đến đài hát được, bà phải miễn cưỡng
thay chỗ, và ca khúc duy nhất bà thuộc lúc ấy là "Đêm Đông" của NS Nguyễn Văn Thương.
Nhờ giọng hát thiên bẩm (trời cho)- theo bà nói- từ đó gần như bà trở thành một ca sĩ chuyên
nghiệp, ngoài chuyện bà là ca sĩ chính của Đài Pháp Á, về sau trở thành Đài Phát Thanh
Quốc Gia, bà Minh Trang còn đi hát "phụ diễn" trên sân khấu, một lối trình diễn rất thịnh hành
hồi ấy tại các rạp chớp bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.Tiếng hát của bà bay
ra Hà Nội và được các nhạc sĩ đương thời ngoài đó rất yêu mến, thường gởi bài vào cho bà
hát như các nhạc sĩ Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Giác, Thẩm
Oánh, Thiện Tơ... Trong một lần ra Hà Nội theo lời mời của Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu
Trí khi ông này tổ chức Hội Chợ, bà đã hát trong ban Việt Nhạc và gặp gỡ nhạc sĩ Dương
Thiệu Tước tại đây.
Hai người nghệ sĩ này, Minh Trang - Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Saigon và sau
đó sinh hạ được năm người con, một trai Dương Hồng Phong và bốn gái Vân Quỳnh, Vân
Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của Ông Bà đều
được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Ngày nay Quỳnh Giao, Vân Quỳnh đã trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm
tại QGAN và Bửu Minh du học Pháp năm 1961 nay là dương cầm thủ chính (đệ nhất vĩ cầm)
trong ban nhạc đại hòa tấu "Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz" của Đức Quốc.
Sau biến cố tháng 4-1975, các cô con gái đã lập gia đình đều đã ra đi, nhưng ông bà Dương
Thiệu Tước còn ở lại Việt Nam, lý do là con trai duy nhất của hai người, Dương Hồng Phong,
động viên năm 1972 đang bị kẹt tại Chu Lai và bị bắt làm tù binh. Với số lương 64 đồng một
tháng dành cho giáo sư Dương Thiệu Tước dạy lục huyền cầm cổ điển, hai ông bà phải sống
trong những điều kiện vô cùng chật vật. Bà Minh Trang kể lại suốt trong những ngày đen tối,
công việc của bà là ngồi lượm sạn và bông lúa để lo bữa cơm cho chồng con, trong khi đứa
con trai tù tội vẫn chưa về. Năm 1978 khi Dương Hồng Phong ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời
đất nước. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vì thường đau ốm nên không muốn đi. Bà Minh Trang
cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, và đi định cư tại Virginia. Ở đây bà làm nghề
"quality control" cho một hãng microfilm và ngay cả làm "baybysitter" trong một gia đình người
Pháp.
Năm 1986, bà theo con về cư ngụ tại Quận Cam vì bà đã chán cái cảnh cào tuyết những ngày
mùa đông ở Virginia, cũng là lúc bà bước vào tuổi hưu trí. Ở đây bà cảm thấy sức khỏe tốt
hơn, và vui với các cháu ngoại ở quanh quẩn trong vùng, tuy bà vẫn còn hai người con trai ở
xa, Bửu Minh tận Đức Quốc và Dương Hồng Phong ở New York.
Ngày nay bà Minh Trang sống trong một căn apartment dành cho người cao niên rất yên tĩnh.
Thú vui của bà là nghe nhạc và nhất là bà rất chịu khó theo dõi tin tức thời sự. Bà tâm sự rằng
ít khi bà nấu nướng, vì các con gái bà đều ở gần có bát canh cần nó cũng mang cho.
Thỉnh thoảng các con ghé lại chở mẹ đi thăm người quen hoặc ghé qua chợ mua một vài thứ
lặt vặt. Bà thích sống một mình như thế đã hơn sáu năm qua mà không cảm thấy cô đơn, vì
các con rất gần gũi với bà. Trong lúc ngồi tiếp chuyện tôi, bà trả lời điện thoại của những
người con gái gọi lại hai lần. Bà tâm sự, bây giờ con cái đều bận bịu công việc, khó có thể
quanh quẩn bên mình, ở căn cư xá này rất tiện, mỗi khi có ốm đau hay cần chuyện cấp cứu
bà chỉ kéo nhẹ đầu giây báo động, là có nhân viên y tế đến giúp ngay.
Trên bàn thờ nhỏ ở phòng khách là hình ảnh những người đã quá vãng, trên vách tường là
những hình ảnh của của người sống. Đó là thế giới của bà, thế giới của hồi tưởng, của kỷ
niệm hay thế giới ấm áp của con cháu đang vây quanh tuổi già của bà. Năm nay bà Minh
Trang đã tới tuổi 84, trông bà hãy còn tráng kiện, tóc phơ phơ bạc, trí nhớ còn rất minh mẫn.
Huế còn nhớ tới Minh Trang tên tuổi một thời, thính giả đài Pháp Á không quên tên người ca
sĩ này, cái tên Minh Trang hình như gắn liền với âm điệu của một làn dân ca Huế, nỉ non và
cũng ai oán trong "Đêm Tàn Bến Ngự" cũng như với cái tên Dương Thiệu Tước. Cuộc đời
sinh ra bà để chúng ta có những tình khúc dịu dàng, thơm tho như một khu vườn Huế những
đêm trăng, đó là "Ngọc Lan", là "Sóng Lòng"....

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 3: LỆ THU

Nữ ca sĩ rất nổi tiếng, một trong những giọng ca lớn của tân nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng cô là người trình bày rất thành công nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến… và nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.

Lệ Thu, một cái tên tiền định hát bằng nước mắt đau thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc, như một lời giới thiệu mở đầu … tèng teng teng…Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,… Rồi một buổi trưa hè nào đó bên nhà hàng xóm văng vẳng xa vắng Gọi Nắng trên vai em gầy đường xa áo bay,…Chỉ một mỹ từ duy nhất để diễn tả về Lệ Thu thôi “Đẹp”, Lệ Thu là một tiếng hát Đẹp. Thưởng thức tiếng hát Lệ Thu như là thuởng thức một Dung Nhan đẹp đẽ và rắn rỏi.
Ở Lệ Thu, cái đẹp còn ở lối phát âm tiếng Việt khi hát. Nghĩ đến Lệ Thu là mường tượng ngay ra được Vẻ đẹp của tiếng Việt, Nhẹ nhàng, Uyển chuyển và rất tròn vành rõ chữ
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 07 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả 8 người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.
Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy nghệ danh Lệ Thu, trong một cuộc phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu”. Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau cô quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing… Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.


Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau.
Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát. Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley.

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 2: KHÁNH LY

Nhắc đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, người ta nhớ ngay đến tiếng hát Khánh Ly. Nghe nhạc Trịnh với giọng ca của Khánh Ly để suy ngẫm về cuộc đời, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của âm nhạc, để thông cảm với một tâm hồn… quá hay, quá đẹp.

Ca sĩ Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Huế năm 1967
Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn đã đi liền với nhau như một định mệnh. Nhạc Trịnh Công Sơn là những bài tình ca cho đất nước, cho dân tộc, và cho tình yêu. Bằng tiếng hát Khánh Ly, và có lẽ chỉ bằng tiếng hát Khánh Ly, những bài hát của Trịnh Công Sơn đã thấm sâu vào tâm hồn mọi người Việt Nam. Ðã mấy chục năm trôi qua từ ngày cô bé Khánh Ly đi chân đất, hát trước hàng ngàn sinh viên Việt Nam và gây xúc động mạnh mẽ với một thứ âm nhạc lạ kỳ. Ngày nay, nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã trở thành một phần của tâm hồn người Việt chúng ta.

Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945 tại Hà Nội, cũng có khi cô lấy tên Phạm Thị Lệ Mai theo họ Phạm của người cha dượng. Năm 1954, Lệ Mai theo mẹ di cư vào miền Nam.
Khi còn ở Hà Nội, dù chưa tới 9 tuổi, Khánh Ly đã tham dự một cuộc thi hát với bài Thơ Ngây cùa nhạc sĩ Anh Việt nhưng không được giải gì. Cuối năm 1956, mới 11 tuổi, Khánh Ly một mình đi nhờ xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom. Lệ Mai hát bài Ngày Trở Về của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau “thần đồng” Quốc Thắng.
Năm 1962, Khánh Ly thực sự bước chân vào sự nghiệp ca hát, cô hát cho phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Cuối năm đó cô chuyển lên sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà ở đó. Năm 1964, Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, lúc đó còn chưa nổi tiếng, ông mời cô về Sài Gòn biểu diễn. Lúc đó, vì không muốn rời Đà Lạt nên Khánh Ly từ chối lời đề nghị của người nhạc sĩ trẻ đó.
Năm 1967, do tình cờ cô gặp lại Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn và từ đó, Khánh Ly cùng Trịnh Công Sơn đã trở thành một hiện tượng của tân nhạc Việt Nam.
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời cho sinh viên tại Quán Văn nằm trên bãi đất rộng sau trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Họ tiếp tục trình diễn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong sân cỏ trường đại học, nơi Khánh Ly được mệnh danh là “Nữ Hoàng Chân Đất” hay “Nữ Hoàng Sân Cỏ”. Khánh Ly chính là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tổ chức sô (show) diễn riêng của mình.
Về biệt danh “Nữ hoàng chân đất”, theo lời thuật lại của Khánh Ly trong băng Video Một đời Việt Nam thực hiện năm 1991, khi chưa có kinh nghiệm ca hát và lần đầu tiên xuất hiện trước một đám đông khoảng một ngàn người, Khánh Ly đã không giữ được bình tĩnh vá đứng không vững, phải vịn vào vai Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn nói “bỏ tay ra và đứng hát cho nghiêm chỉnh”, vì run quá, nên Khánh Ly cởi bỏ đôi giày cao gót và đứng chân đất và nhờ đó, đã có thể bình tĩnh để trình bày hết bài hát của Trịnh Công Sơn trong suốt một đêm đó, khoảng 30 đến 40 bài hát trong 1 đêm. Khánh Ly kể về thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.
Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều hãng đĩa tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các dĩa nhạc của các hãng dĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Continental và thâu vào băng Akai của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo Marcel… Năm 1968, Khánh Ly mở Hội Quán Cây Tre ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng Trịnh Công Sơn – Khánh Ly Hát Cho Quê hương Việt Nam.
Năm 1970, nhận được lời mời của đài truyền hình NHK, Khánh Ly sang biểu diễn ở Nhật Bản. Khánh Ly đã ghi âm và trình diễn các ca khúc bằng cả hai thứ tiếng Việt và Nhật.
Năm 1970, Chiến tranh Việt Nam lan rộng, Trịnh Công Sơn viết nhiều ca khúc phản chiến và được Khánh Ly hát trong những cuốn băng Hát Cho Quê Hương Việt Nam. Khánh Ly cũng tham gia hát trong những buổi ca nhạc gây dựng quỹ của các hội đoàn, hội Công giáo Việt Nam để xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, trại tị nạn. Năm 1972, cô mở một phòng trà ca nhạc mang tên Khánh Ly trên đường Tự Do, số 1214 tại thành phố Sài Gòn.

Vợ chồng ca sĩ Khánh Ly và bạn bè
Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam và định cư tại Cerritos, California, Hoa Kỳ. Năm 1979, một lần nữa Columbia Nippon lại mời Khánh Ly đến Nhật để thâu băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Năm 1982, đài Bunka Honso Radio mời Khánh Ly tham gia Liên hoan Âm nhạc Châu Á với nhiều nghệ sĩ nhiều nước châu Á. Năm 1985, Khánh Ly cùng chồng là nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan mở hãng thu riêng Khánh Ly Productions.
Năm 1996, Đài truyền hình NKH ở Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là một trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm phim tài liệu về cuộc đời và gia đình Khánh Ly.

Bí mật ra đời bài Đêm tàn bến ngự của Dương Thiệu Tước

Trong số những bài hát nổi tiếng được nhiều thế hệ yêu thích, vượt qua không gian, thời gian, in đậm dấu ấn vào nền Âm nhạc việt Nam nửa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 có bản Đêm tàn Bến Ngự của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Đây là một ca khúc lấy bối cảnh cố đô Huế trong thời khắc đẹp nhất của tiết thu phân. Bài hát với tiết tấu chậm, buồn, ca từ mượt mà, sang trọng, tình tứ mà mỗi khi ca sĩ hát lên khiến lòng người nghe rung động, cảm thụ âm nhạc thật tuyệt vời.
Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, chính ca khúc Đêm tàn Bến Ngự đã gắn liền một mối tình tuyệt đẹp, vượt qua không gian, bền bỉ theo thời gian đến hết cuộc đời của hai người nghệ sĩ nổi tiếng tài danh một thời của Sài Gòn. Đó là ca sĩ Minh Trang và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Cô gái dòng dõi quý tộc đất thần kinh
Minh Trang là nghệ danh khi trở thành ca sĩ của cô gái Nguyễn Thị Ngọc Trâm, bà sinh ngày 18-8-1921 tại một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự kinh đô Huế. Ở Huế, vào thế kỷ 19 mọi người hầu như đều nghe danh Mỹ Lương Công Chúa hay còn gọi là Bà Chúa Nhứt vốn là chị ruột của vua Thành Thái. Mỹ Lương Công Chúa là dòng dõi quý tộc nhưng lại có máu nghệ sĩ, bà có nuôi một ban hát đông tới hàng chục người và có riêng một ban ca Huế trong nhà để giúp vui, phục vụ cho việc giải trí. Chính Mỹ Lương Công Chúa là bà ngoại của Nguyễn Thị Ngọc Trâm, tức ca sĩ Minh Trang về sau.
Do thân phụ của ca sĩ Minh Trang là ông Nguyễn Hy một mệnh quan của triều đình Huế, vì công việc ông thường đáo nhậm nhiệm sở xa nên lúc nhỏ Minh Trang gắn bó với bên ngoại nhiều hơn bên nội. Chính thời thơ ấu cô gái Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã gắn bó với bà ngoại là Mỹ Lương Công Chúa nên hấp thụ được thẩm âm của dòng nhạc cung đình và mới 7-8 tuổi bà đã thuộc, hát được những bài bản cổ nhạc, ca Huế như Kim Tiền, Lưu Thủy, Nam Ai, Nam Bình… Mặc dù bà Ngọc Trâm nói giọng Quảng theo cha (ông Nguyễn Hy là người Quảng Ngãi), nhưng khi hát, bà lại hát bằng chất giọng Huế rất mượt mà, nhấn nhá, luyến láy rất thu hút, chất giọng truyền cảm tự nhiên ấy dễ đi vào lòng người nghe.
Tuy nhiên, khi lớn lên bà Ngọc Trâm lại được giáo dục theo Tây học nên hấp thụ nền văn hóa phương Tây, bà theo học trường Jeanne d’ Arc, một trường dòng của Pháp danh tiếng ở Huế và tất nhiên theo phong cách Tây phương bà Ngọc Trâm đã học và biết đàn dương cầm từ nhỏ. Khi lên bậc trung học bà Ngọc Trâm lại theo gia đình ra Hà Nội vì thân phụ bà đáo nhậm tại đây, Năm 1941 ông Nguyễn Hy trở về Huế nhậm chức ở Bộ Lại nên gia đình về sống ở Huế, bà Ngọc Trâm tiếp tục bậc trung học ở trường Lyceé Khải Định.
Khi còn đi học bà Ngọc Trâm được ông thầy dạy Việt Văn tên Ưng Quả, cũng là vị “phụ giáo” của triều đình chú ý, cảm mến. Ông Ưng Quả góa vợ, có hai con trai nhưng điều này không cản trở tình cảm của hai người đến với nhau. Bà Ngọc Trâm chấp nhận tiến tới hôn nhân với ông Ưng Quả và hai bên gia đình đều thuộc dạng “môn đăng hộ đối” bởi ông Ưng Quả là cháu nội của Tuy Lý Vương, còn Ngọc Trâm là cháu nội của Diên Lộc Quận Công.
Cuộc hôn nhân không tuổi tác nhưng lại rất hạnh phúc vì khi gắn bó tình cảm ban đầu “thầy” Ưng Quả và “cô trò nhỏ” Ngọc Trâm đã rất hợp với nhau. Họ sinh được một trai là Bửu Minh và một gái là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, chính bà Ngọc Trâm khi thành ca sĩ đã lấy tên con trai và con gái ghép lại để thành nghệ danh Minh Trang. Bửu Minh sau này cũng trở thành một vĩ cầm thủ nổi tiếng trong ban nhạc đại hòa tấu “Staasphihlarmonic Rheeinland Plalz” của Đức. Còn Công Tằng tôn Nữ Đoan Trang sau này chính là ca sĩ có giọng hát trong veo, cao vút Quỳnh Giao nổi tiếng trước năm 1975 ở Sài Gòn và sau năm 1975 khi định cư ở Mỹ

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

phận đời những ca sĩ ..... bán kẹo kéo

Họ cũng là những ca sĩ, có điều nơi biểu diễn của họ không ánh đèn màu. Sân khấu là lề đường, quán nhậu; cátsê họ nhận là tiếng vỗ tay và những nụ cười thân thiện.
Cái họ quan tâm không phải là sự nổi tiếng mà những đồng tiền còm cõi kiếm được từ việc bán những thanh kẹo kéo nhỏ ngọt thơm. Tôi đã nhận ra họ - "ca sĩ" bán kẹo kéo dưới ánh sáng hư ảo của đường phố, những con người đêm đêm cất cao tiếng hát mua vui cho đời và phía sau tiếng hát ấy là cả một nỗi niềm chất chứa của thân phận kiếp người trong sự xô bồ náo nhiệt của cuộc mưu sinh.
Tôi tìm đến họ trong một con hẻm nhỏ, ngoằn ngoèo, hun hút bên bờ kênh nước đen gần cầu Rạch ông (quận 8, TPHCM). Gọi là xóm kẹo kéo cho "sang" một chút chứ thật ra, đây chỉ là một dãy nhà trọ nghèo, tập hợp những người bán kẹo kéo thuê.
Chú Long kể lại những ngày đầu bước vào nghề không vốn, không tay nghề, sẵn biết cách làm kẹo kéo nên chú Long quyết định làm kẹo rồi rong ruổi khắp nơi bán dạo. Tuy không dư giả, nhưng cũng đủ ăn đủ mặc. Chú không khổ vì nghề nhưng chú chỉ buồn vì nghề của mình lại bị khinh khi. "Nhiều lúc bị người ta thóa mạ nước mắt ứa ra mà vẫn phải lầm lũi đi bán tiếp, cũng phải cầm lòng mà hát".
Sau những năm tháng miệt mài gắn bó, kinh nghiệm tích lũy cũng nhiều, nên khá nhiều người đến xin chú học nghề. Thấy hoàn cảnh của họ cũng khó khăn, chú giúp đỡ bằng cách thuê họ bán kẹo và trả lương đàng hoàng. Từ đó, số người dừng chân và gắn bó với nghề ngày càng nhiều và hợp thành xóm kẹo kéo này.
Khoảng 17h, người xóm kẹo lại lần lượt tỏa đi khắp nơi. Chiếc xe máy gắn thêm dàn âm thanh và 2 con người chen chúc nhau cùng rong ruổi. Mỗi xe một người "cầm tài", một người "ca sĩ". Người "cầm tài" chở "ca sĩ" đến các tuyến đường có nhiều quán nhậu, các địa điểm vui chơi và phải khôn khéo để tránh nhiều xe gặp nhau một chỗ. Hát, nhảy múa và bán kẹo là nhiệm vụ của "ca sĩ". Những người này phải dạn dĩ, có năng khiếu, gương mặt ưa nhìn.
Không chỉ mệt mỏi, những "ca sĩ" bán kẹo kéo còn chịu nhiều buồn tủi. Nơi họ đến bán đa phần là quán nhậu. Quán nhậu thì dạng người nào cũng có. Nhưng khi say, ai cũng như nhau. Người ít học khi say bực bội vì sự mời mọc thì văng tục vài câu, người trí thức thì dùng lời lẽ cay độc để đánh vào lòng tự trọng của những con người lam lũ.
Anh Nhã chia sẻ: "Trách làm sao được lời nói của người say". Bản thân Nhã chỉ học hết lớp 2, gia đình khó khăn lại đông anh em. Gia đình từ Đồng Tháp dắt díu nhau lên Đắc Lắc để mong có ngày đổi đời với cà phê và tiêu, điều. Nhưng không phải ai cũng có thể vượt ra được số nghèo. Khô hạn thiếu nước, cái ăn không đủ, anh một mình đến TPHCM, làm đủ thứ việc và cuối cùng yêu thích và gắn bó với nghề "ca sĩ" kẹo kéo.
Ít chữ, ốm yếu nhưng có tài lẻ là hát và nhảy nên anh Nhã đã sống bằng nghề bán kẹo kéo hơn 3 năm. Anh nhảy đẹp, và được mệnh danh là Micheal Jackson của xóm. Khi nhìn anh nhảy giữa dòng xe tấp nập, gương mặt anh rạng rỡ, hạnh phúc đến lạ.
Những bước nhảy của anh trước khán giả (dù đó là những kẻ say hay người tỉnh) cứ nhẹ tênh và điêu luyện như một nghệ sĩ đang biểu diển trên sân khấu... Bất giác tôi chợt nghĩ: Họ - những "nghệ sĩ đường phố" này dường như khi biểu diễn không chút nào vướng bận chuyện manh áo, chén cơm.
Nhưng anh chưa phải là người gắn bó lâu nhất. Anh Hồ Thanh Điền đã có hơn 10 năm trong nghề. Anh có giọng hát giống hệt ca sĩ nổi tiếng Đàm Vĩnh Hưng. Tôi ấn tượng với gương mặt trải đời và mái tóc nhuốm bụi phong trần của anh. Sương gió cuộc đời cho anh những cảm xúc đặc biệt trong từng lời hát. ấy thế, anh vẫn không tránh được những lúc thượng đế của mình nổi điên lấy đồ chọi vào loa, giật lấy micro nhúng vào nồi lẩu. Mất cần câu cơm, anh vay mượn tiền đứng, tiền góp để sửa. Vậy là cái nghèo vẫn cứ đuổi riết theo anh.
Xóm cũng có nhiều bạn là sinh viên, một số đang theo học và đến với nghề này để mong có tiền trang trải việc học. Một số bị nợ môn, tốt nghiệp rồi nhưng chưa thể lấy bằng, kiếm tiền để học môn nợ nhưng mãi vẫn chưa thoát ra được kiếp "ca sĩ" hát rong.
Cả xóm kẹo mỗi người một hoàn cảnh, không có cái khổ nào giống nhau. Nhưng họ có chung nỗi niềm đem bán vị ngọt mang chua cay về riêng mình.
Cần lắm một chữ tình
Dẫu biết ca hát vào buổi tối là ồn ào, gây mất trật tự, nhưng đó là cách duy nhất người bán kẹo kéo thu hút khách. Khi thấy khách tỏ ra khó chịu thì họ lập tức vặn nhỏ nhạc hoặc đi chỗ khác. Có nơi, chủ quán không cho bán thế là lủi thủi quay xe chạy đi. Cũng không ít lần, họ bị công an bắt và phạt. Đôi lúc được thông cảm, gặp người dễ tính thì chỉ bị nhắc nhở rồi thả cho về. Nhưng có hôm, họ bị phạt từ 200 nghìn đến gần 1 triệu đồng. Vậy là hết vốn liếng, phải vay mượn tiền để đóng tiền phạt.
Chú Long nói vui: "Chị Dậu còn có chó để bán còn những người bán kẹo kéo không có gì cả, xe cũng là thuê mướn, chỉ có giọng hát là vốn liếng". Chị Dậu - một nhân vật văn học, còn nhận được sự đồng cảm yêu thương của mọi người, vậy cớ sao những cảnh nghèo khó trước mắt, chúng ta lại làm ngơ, lại nhẫn tâm chà đạp lòng tự trọng và sự lương thiện của họ? Họ cũng sống bằng sức lao động, bằng sự yêu nghề và ý thức mang niềm vui đến cho mọi người.

Một ngày mưa ta hẹn hò với cô đơn....

Ta học cách chấp nhận đau khổ, bởi chỉ khi biết chấp nhận ta mới tìm được liều thuốc đúng cho nỗi đau mà ta đang gánh chịu. Thế là chỉ cần thời gian, ta có thể xóa mọi vết thương, kể cả vết thương lòng.
Một ngày mưa, ta cầm ô tìm đến một quán quen nơi góc đường, cửa kính trong suốt khiến ta có thể cảm nhận mưa như đang tưới mát cả tâm hồn ta giữa bao tháng ngày ngột ngạt.
Nhâm nhi tách coffee không đắng ngắt vì có thêm vị sữa, ta mỉm cười hít thật sâu hương vị coffee ngon. Thật ra thì ta cũng không biết định nghĩa coffee ngon là như thế nào đâu, chỉ vì nơi ta đang ngồi là quán quen, thứ ta uống là thứ quen, vì vậy ta thấy ngon, chỉ thế thôi.
Tiếng chuông gió leng keng mỗi khi có khách vào. Trời mưa, nhịp độ của chuông kêu nhiều hơn vì có những vị khách không mục đích bước vào, chỉ tại trời mưa và cần một nơi trú mưa. Ta mỉm cười với chị chủ quán, ngầm ý nói: “Chị phải cảm ơn ông trời vì đã thả mưa!”
Ta lại đưa tách coffee lên môi, nhấp một ngụm rồi đưa lên trước khung cửa kính, cảm giác như mưa đang nhỏ từng giọt tinh khiết vào trong tách, kì diệu đến lạ lùng. Rồi ta lại đưa tách theo bước chân người đi đường, coffee sóng sánh trong tách vì ta đưa theo không kịp, những bước chân vội vàng, cuống cuồng tránh mưa. Ta mỉm cười tự thấy đời ta sao nhàn rỗi quá.
Mấy ai cảm thấy đời này nhàn rỗi khi không còn là một đứa trẻ. Bởi cuộc sống là một guồng quay, quay mãi, quay mãi cho đến khi ta hoàn thành xong một kiếp người. Ta vẫn bước đấy, ta vẫn quay đấy, nhưng sức mỗi người khác nhau, ai đi kịp thì nhẹ nhàng, ai yếu đuối tất nhiên phải thấy mệt mỏi, chán nản và đôi khi bỏ cuộc giữa chừng.
Ta học cách cảm nhận cuộc sống theo hướng ngược lại trong từng khoảng khắc. Khi ta đang vui bên bạn bè, ta lại nghĩ đến một ngày không có bạn bè ở bên. Thế là ta biết phải trân trọng giờ phút ấy.
Ta học cách chấp nhận đau khổ, bởi chỉ khi biết chấp nhận ta mới tìm được liều thuốc đúng cho nỗi đau mà ta đang gánh chịu. Thế là chỉ cần thời gian, ta có thể xóa mọi vết thương, kể cả vết thương lòng.
Ta học cách tha thứ cho những người mà ta đã từng gọi bằng hai chữ “kẻ thù”. Bởi có kẻ thù thì ta mới phân biệt được đúng sai, tốt xấu trong cuộc đời này. Đến cuối cùng ta lại muốn ôm họ, cảm ơn họ vì đã cho ta biết thêm sắc màu cuộc sống.
Ta học cách hài lòng với những gì ta đang có. Vốn dĩ có câu nói rất đúng: “Ta không được phép lựa chọn nơi ta sinh ra, nhưng ta có quyền lựa chọn ta sống như thế nào”, thế nên trước khi biết phải sống như thế nào, ta hài lòng với thứ ta đang có, là gia đình, là bạn bè, là hình dáng… ta còn học cách yêu những điều ấy. Bởi ta nhận ra, tình yêu thương luôn làm nên những điều kì diệu.
Ta học… ta vẫn đang học từng điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống này. Để biết được rằng ta vẫn bước, vẫn đi, vẫn quay theo cuộc sống chứ không dừng và không là một điểm chết.
Mưa vẫn rơi, đường vẫn nhiều người quá lại. Tách coffee của ta chỉ còn đủ cho ta uống trong một ngụm. Tiếng cười nói trong quán mỗi lúc một nhiều, ta nhìn quanh và nhận ra bàn nào cũng nhiều người, chỉ có mỗi chỗ ta ngồi là một mình ta. Cô đơn. Phải rồi, ta vẫn đang hẹn hò với cô đơn.
Một ngày mưa, rồi lại hẹn hò với cô đơn, nhưng ta cảm thấy hài lòng, thanh thản xen lẫn bình yên.

Lạc mất em giửa mùa mưa Saigon


Ngày mai cho tôi dừng lại chút thôi em nhé, để thôi hết nhớ nhung, sau đó sẽ là những chuỗi yêu thương đong đầy.
Sài Gòn chiều nay mưa lất phất buồn, con đường về vùng ngoại ô càng thêm xa vời vợi, vòng xe lăn mãi dưới bóng mưa nhạt nhòa. Tôi không vội vã đi qua cơn mưa mà từ từ cảm nhận cái se lạnh, chậm rãi lướt qua những ngõ vắng để cảm nhận sự cô đơn, tĩnh mịch; để nghe tiếng thở của hương xưa phảng phất đâu đây, rất gần nhưng cũng rất xa; để cảm nhận bằng tâm hồn đang dần chai cứng với cuộc sống; để nghe trong yên lặng, đường êm ắng, chỉ có tiếng mưa. Bất chợt nỗi nhớ tiếp tục đưa chân tôi lang thang bên một bờ sông vắng lộng gió.

Thỉnh thoảng tôi vẫn về đây như thường lật giở từng trang kỷ niệm, thả lòng mình ngắm theo dòng nước trên những khoảnh khắc thời gian trôi đi không bao giờ lấy lại được. Mới đây thôi mà sao bỗng xa xôi ngút ngàn. Thảm cỏ hai bên bờ vẫn mượt xanh và những trảng hoa vẫn ấp đầy hương sắc. Cỏ đùa cợt cùng gió và hoa vẫn cứ lẳng lơ cùng ong bướm không hề e thẹn. Lang thang giữa dòng nước kia là những đám lục bình đang trổ bông, cũng đẹp đấy!

Tôi đứng nhìn mãi những bông hoa tím co ro trong gió, xuôi theo dòng nước, trong chiều nắng tắt, quặn lòng, như gặp lại người xưa. Tiềm thức của tôi muốn kiếm tìm những thứ mong manh không có tên tuổi trong đôi mắt em ngày nào. Tôi lang thang, lạc lối giữa muôn trùng tâm tư không dám nói. Trong cơn mơ giữa đêm, tôi thấy mình là chiếc lá cuối cùng trên thân cây khô cằn, rồi nhẹ tênh hòa vào cơn gió mang mình bay lên vùng trời kỷ niệm.

Ở lại đây em nhé, cơn gió nhẹ nhàng ru tôi giấc ngủ dài đêm thâu. Nơi đây có nụ hoa đâm chồi, có tình yêu đang tồn tại, vậy mà mãi miên man, bàn tay tôi mãi không chạm tới, không thể cảm nhận dù chỉ một làn hơi ấm thoáng nhẹ qua đây. Tôi vẫn mơ đến những buổi chiều thả hồn với gió, em như chiếc bóng thầm lặng bên tôi lang thang trên những con phố dài rợp bóng mát, tóc em lòa xòa vệt ngang môi.

Tôi đã chờ đợi trong mòn mỏi những điều tưởng chừng đơn giản mà xa mãi nơi đâu, lối hẹn xưa nay cỏ cũng nhạt nhòa. Em có trở lại hay thời gian trở lại? Có lẽ tôi chỉ đang tự huyền ảo chính mình. Thôi cứ mơ, cứ chờ và cứ đợi hỡi cô bé ngây thơ ngày ấy, dù đó là những phút phiêu du trong tiềm thức. Ngày mai cho tôi dừng lại chút thôi em nhé, để thôi hết nhớ nhung, sau đó sẽ là những chuỗi yêu thương đong đầy. Cũng như bao người, tôi thường hoài niệm lúc chơi vơi.

Nhớ Sài Gòn một chiều mưa tầm tã
Phố đông người tôi vội vã đón em
Chờ đôi mắt tròn đen giăng buồn bã
Long lanh nhìn làm rời rã tim si.

Sài Gòn giờ mưa có rơi tầm tã
Chiều em về ai vội vã đón đưa
Mắt tròn đen ngày xưa giăng buồn bã
Chiều nay còn êm ả nhớ tôi không?