Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015

10 NỮ CA SĨ CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG NHẤT VIỆT NAM – KỲ 1: CA SĨ THÁI THANH

Thái Thanh “ Một ca sĩ của dân tộc ”. Thái Thanh “ Một tiếng hát dâng hiến tâm tình ” Thái Thanh đã hát cho bao nhiêu thế hệ chúng ta, từ đầu thập niên 50, khi mới 17 tuổi, từ Bắc vào Nam, hơn 20 năm với quê hương chinh chiến.
Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, PhạmDuy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng.
Với 1 giọng ca trong trẻo, cao vút cùng một cách hát và nhả chữ không thể nhầm lẫn, tiếng hát Thái Thanh đã sống cùng trái tim yêu nhạc của bao người qua nhiều thế hệ. Tên tuổi Thái Thanh gắn liền với âm nhạc Phạm Duy & Phạm Đình Chương cùng những ca khúc sống mãi với thời gian: Ngày xưa Hoàng Thị, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau….
Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô congái út Phạm Thị Băng Thanh.
Thái Thanh lập gia đình với tài tử Lê Quỳnhvào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi.
Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh– Đêm Tái Ngộ năm 1986) và ghi âm một số CD với Trung tâm Diễm Xưa. Hai con gáicủa bà Ý Lan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”.

 Tiếng hát Thái Thanh là một âm vang thời cuộc, tiếng hát của bà không đơn thuần là một tiếng hát nữa, mà đã là một hiện vật lịch sử.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Phân tích nhạc phẩm Phôi Pha sáng tác Trịnh Công Sơn

"Phôi pha" là tên một nhạc phẩm nổi tiếng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhạc phẩm tả lại tâm tình của một người nhớ man mác về quá khứ với một người tình đã mờ nhạt trong trí ức, cũng như những chiêm nghiệm về thân phận con người trước sự hữu hạn của một kiếp sống. Về phần lời nhạc, những ý tưởng ngổn ngang về kiếp người được Trịnh Công Sơn khéo léo đưa vào để làm tăng thêm sức quyến rũ của giai điệu, vì vậy mục đích của tiểu luận này là để phân tích cấu trúc của bản nhạc nhằm hiểu rõ hơn nghệ thuật sáng tác nhạc của Trịnh Công Sơn. Xin nói ngay,người viết không được học qua nhạc lý trong một hệ thống đào tạo chính thức nào, chỉ tự học qua một vài quyển sách dạy cách sáng tác một bản nhạc mà thôi. Lý do chính của người viết là muốn qua việc thử phân tích thấu đáo một bản nhạc của Trịnh Công Sơn sẽ làm tan đi phần nàomột quan niệm của người thưởng ngoạn làTrịnh Công Sơn có một nhạc thuật hạn chế và dễ dãi.
"Phôi Pha" được viết căn bản với cấu trúc AABA, nhưng các đoạn A cũng không giống nhau, và B thì không hẳn là một điệp khúc, mà có tác dụng như một đoạn chuyển tiếp để trở lại đoạn A trước khi kết thúc bài hát. Ta sẽ đặt tên cho cấu trúc này là A A' B A''. Sau đây là phân tích từng đoạn.
Đoạn A:
Đoạn A mở đầu ngay với giai điệu chính của bản nhạc: "Ôm lòng đêm (Am)/ nhìn vầng trăng mới về (F)/ nhớ chân giang hồ (Em)". Đây chính là ý nhạc chính của bản này, làm cho ta phải nhớ về bản nhạc đó với âm hưởng "ôm lòng đêm" (đoạn A,)"đâu còn ai" (A') và sau cùng là "thôi về đi" (A''). Đây là một đặc điểm cần phải có của một bản nhạc để bản nhạc ấy được nổi tiếng. Các thí dụ khác của các "catchy tunes" này là "Trả lại em yêu ..." (Trả lại em yêu-Phạm Duy), "Em đi" (Em đi - Đức Huy), hay "Bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa .." (Giáng Ngọc - Ngô Thuỵ Miên). Cái ý nhạc chính này là "căn cước" (identity) của bản nhạc đó, làm cho nó không thể lẫn với bài nào khác được. Một nhận xét khác nữa là Trịnh Công Sơn có rất nhiều bài nhạc với các căn cước riêng biệt, mỗi căn cước lại có một nhịp điệu (rhythm) riêng, không bài nào giông giống bài nào. Các bài nhạc Trịnh Công Sơn khác như "Diễm Xưa", "Gọi Tên Bốn Mùa", "Chỉ Có Ta Trong Một Đời","Nắng Thuỷ Tinh", "Như Cánh Vạc Bay", v.v. là các thí dụ tiêu biểu khác về identity của bản nhạc.
Câu nhạc "Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ", về mặt nhạc thuật là một khởi đầu bằng một câu đảo quãng năm rồi trở về chủ âm la đoản (ôm lòng đêm), theo sau là hai đoạn ngắn liền nhau đi lên và sau đó đi xuống. Giống như ta nói chuyện vậy, ta nói chủ đề, rồi kể lể lên xuống mà không đổi quãng nhiều giữa các nốt nhạc sát nhau. Bài nhạc được viết ở âm giai đoản hoà điệu (harmonic minor -la si do re mi fa sol# la) là một thang âm rất được sử dụng trong nhạc TCS cũng như của các nhạc sĩ Việt Nam khác. Trái lại, theo sách "Writing Music for Hit Songs" thì nhạc Tây phương đương đại ít sử dụng thang âm này hơn, mà họ dùng Aeolian minor scale (la si do re mi fa# sol la.) Có lẽ vì vậy mà nhạc ta nói chung nghe khác nhạc Tây phương chăng?Trong câu nhạc kế tiếp (vẫn trong đoạn A,) Trịnh Công Sơn chọn cách phát triển ý nhạc bằng cách lặp lại nhịp điệu như ở hai trường canh đầu ("ôi phù du, từng tuổi xuân đã già") nhưng dùng những nốt nhạc cao hơn, sau đó phát triển tiếp nhịp điệu của "từng tuổi xuân đã già" thành "một ngày kia đến bờ" và trở nhanh về chủ âm với "đời người như gió qua". Câu hát ngắn nhưng chắc nịch như một lời phán quyết là đời sống cũng nhanh và ngắn ngủi hệt như vậy. Chỉ như vậy thôi, với hai câu hát ngắn, ta đi xong một đoạn của bài hát. Về phần lời nhạc, với một ý nhạc cộng với một biến thể của 1 ý nhạc đó, Trịnh Công Sơn mô tả xong hình ảnh một người ngắm trăng cùnglúc suy tư về bước chân giang hồ, cộng vớisự than vãn về một kiếp người chỉ phù du như một cơn gió qua.
Đoạn A':
Đoạn này kết cấu cũng như sự phát triển ý nhạc tương tự như đoạn A, sự khác biệt ở chỗ thay vì đi về chủ âm qua hợp âm thất trình áp âm (E7), thì Trịnh Công Sơn quay về âm thức (Do)trưởng tương ứng của âm thức đoản (Am) trước khi trở về chủ âm. Tuy Trịnh Công Sơn không hề gán hợp âm cho bản nhạc, vì hai chữ "chờ đợi", ta có thể dùng hợp âm tứ trình (F hay F Maj7) để đặt cho hai trường canh này, tạo nền cho một chuyển động mạnh hơn ở điệp khúc.
Điệp Khúc:
Không như các điệp khúc khác có thể thấy rõ rệt sự khác biệt của hai ý nhạc ("Hoa Vàng Mấy Độ" là một ví dụ như vậy - từ âm giai Mi đoản chuyển sang Mi Trưởng), điệpkhúc của bài nhạc này giống như một đoạn nhạc chuyển tiếp (bridge) hơn để chuyển về đoạn A''. Đoạn nhạc bắt đầu ngay với hai trường canh ở hợp âm thất trình áp âm ("Về ngồi trong những ngày, nhìn từng hôm nắng ngời" - E7), xong chuyển qua âm thức trưởng tương ứng (C). Trịnh Công Sơn sử dụng lối dùng nốt rải (appergios) để nhấn mạnh ý nhạc này. Một chú ý khác là sau khi dùng liên tiếp 3 câu nhạc ngắn như vậy, Trịnh Công Sơn đã cânđối lại phần trước bằng cách dùng liên tiếp6 nốt "eight note" và hai nốt "quarter note" ("có những ai xa đời quay về lại") để kéo dài, "gằn" câu nhạc xuống, hay trong bài này thì tỏ ý ước muốn người tình xưa trở về lại. Tiếp theo, Trịnh Công Sơn làm cho lời bài nhạc đã xa vắng càng thêm chất ngất với việc làm chậm lại và ý nhạc đi lên đến hợp âm thất trình áp âm lần nữa ("Về lại nơi cuối trời, làn mây ..... trôi ...")
Đoạn A'':
Trịnh Công Sơn cho người thưởng ngoạn một ngạc nhiên nho nhỏ và lý thú là ở chỗ ý nhạc chính "Thôi về đi", ngoài việc ở đầu câu như hai đoạn trước (A và A'), còn là sự trở về âm chính La thứ sau cao trào của đoạn trên. Đặt lời với "thôi về đi" như vậy, đã là một sử dụng nhạc thuật rất tài tình để đoan chắc với thính giả là "thôi về đi" là một hệ quả tất yếu, không còn hoài nghi gì nữa. So sánh cái "về" này với cái về trong "Ừ thôi em về" ("Cuối cùng cho một tình yêu" Trịnh Công Sơn/Trịnh Cung) ta mới thấy chúng khác nhau làm sao! Một bên đoan quyết, còn một bên thì "dùng dằng nửa ở nửa về" do chỗ đặt của từng chỗ đứng của chữ "về" trong câu nhạc.
Để kết thúc bản nhạc này, thay vì đi liền tới E7 như trong đoạn A, Trịnh Công Sơn đã khéo léo dắt ta qua F trước khi về E7 và sau cùng trở về cung chủ âm Am. Có thể nói Trịnh Công Sơn đã dùng một giai kết thật lơ lửng nhưng liền lạc và rất phù hợp với ca từ "bàn chân ai rất nhẹ, tựa hồn những năm xưa.
"Một chi tiết khác:
Một chi tiết đáng lưu ý là sự xuất hiện nhiều lần chữ "về" (7 lần.) Sự lặp lại này có thể được gọi là một sự nghèo nàn trong vốn từ, hay là một chủ đích của tác giả về một mơ ước của một sự trở vầ nào đó, hay chỉ là một nỗi cô đơn vốn có của tác giả hiện lên không chủ đích (unconsiously)? Nếu người viết bài này không nói ra chi tiết này thì bạn có cảm thấy có sự trùng lặp trong ca từ không, hay Trịnh Công Sơn đã thật sự khéo léo trong việc "ngụy trang" các từ này?
Sự khéo léo này, theo tôi nghĩ, có lẽ là ở chỗ khi nào muốn nhấn mạnh chữ "về", thì Trịnh Công Sơn hoặc dùng một quãng nhảy đảo xa (thôi "về" đi - quãng 5), hoặc là đặt nó vào nhịp mạnh (nhìn vầng trăng mới "về", vườn khuya bước "về" - nhịp 1), hoặc cho nó bắt đầu của một hợp âm rải (appergio) đi lên ("Về" ngồi trong những ngày, "Về" lại nơi cuối trời - hợp âm la thứ.). Các chữ "về" còn lại thì lẩn trong các nốt tạm (passing notes) của một cung nhạc đi lên (đường "về" ôi quá dài,) hay đi xuống (xa đời quay "về" lại.)Nhân tiện đây, ta hãy thử tìm hiểu tại sao nó trùng lặp rất nhiều, mà ta không thấy chán. Người viết nghĩ là vì tiếng Việt mình có đặc điểm gần giống như tiếng Anh là dùng chữ kép (Anh ngữ thì có động từ với prepositions như get on, get away, get in, get out, v.v. mà chỉ nguời bản địa mới hiểu nổi chúng có ý nghĩa thật sự ra sao.) Ta thấy "về" ở đây ngoài nghĩa chính, cũng còn được kết hợp để làm rõ thêm ý của các danh từ khác như "đường" về, "bước" về. Động từ "về" cũng được thêm vào để làm rõ nghĩa chẳng hạn như "mới" về. Lại còn truờng hợp "về" và "đi" nằm sát cạnh nhau như trong "Thôi về đi", thì truờng hợp này chữ "đi" được khéo léo dùng làm một chữ để nói lên sự thuyết phục, và cách bởi chữ đi một quãng năm, rất tự nhiên như mình nói chuyện hằng ngày vậy.
Như vậy, khi đặt một bản nhạc, ta chỉ cần biết phải làm thế nào cho nó không trùng lặp ý nhạc, ý ca từ với các bài nhạc khác của ta mà thôi, còn các "linh tinh" khác như cách xử dụng lặp đi lặp lại chữ "về" đề đạt một mục đích nào đó cho bản nhạc, là một việc cần phải làm và không nên dè dặt trong việc sử dụng chúng.
Kết luận
Ta có thể nói là trong nhạc phẩm "Phôi Pha" này, Trịnh Công Sơn chứng tỏ ông có một nghệ thuật đặt câu rất vững, không thừa không thiếu. Nếu chỉ nhìn thoảng quabài hát này cũng như một số ca khúc nổi tiếng khác cũng của Trịnh Công Sơn, ta có thể hời hợt đánh giá là nhạc của ông đơn giản, và nhạc thuật của ông không có gì cả. Nhưng thật ra, sự đơn giản ấy có được vì đã qua một sự sắp xếp chọn lựa cẩn trọng, với những quyết định phát triển ý nhạc phù hợp với ý nghĩa của lời nhạc. Để trở thành một nhạc sĩ tên tuổi, nhạc thuật phải vững vàng, và hy vọng qua bài này người đọc sẽ đồng ý với người viết là Trịnh Công Sơn rất giỏi về mặt này.

Tình yêu là gì?

Khi hỏitình yêu là gì? chắc mọi người đều có một câu trả lời riêng cho bản thân mình như là: yêu thương nhau, chăm sóc lẫn nhau, nghĩ về nhau, lo lắng cho nhau, bên cạnh nhau mãi mãi….và đại loại những thứ na ná như thế.
Một người luôn nghĩ về một người khác, nhớ họ thật nhiều, quan tâm họ, đau khổ khi họ thờ ơ. Người ta gọi là yêu? Chắc chứ!
Tình yêu là thế sao? Nếu tình yêu là như thế, theo tôi cũng thật tầm thường.
Hay tình yêu là hi sinh cho nhau, chết vì nhau. Tình yêu đó chắc chỉ có thời chiến quốc, hay xa xưa gì đó, còn thời này chắc cũng không kiếm nổi một tình yêu như thế đâu.
Hôm qua, tôi có coi phần hai của bộ phim nổi tiếng Họa Bì. Nội dung thì rất dài, nhưng tôi nhớ chỉ vẻn vẹn 1 câu của nhân vật chính: Ta yêu nàng, nhưng ta đã lấy Bốidung!!!
Nghe xong câu này tôi phá lên cười như xem một bộ phim hài, bảo rằng: đó gọi là tình yêu à? Tội nghiệp cô gái. Một tình yêu vô trách nhiệm, một tỉnh yêu chỉ làm ngườikhác đau khổ, một tình yêu mà không thể làm người yêu mình hạnh phúc nổi thì đó không phải là tình yêu, nó là một sự bố thí. Ban cho người ta một chút cảm tình rồi vội vàng gọi đó là tình yêu. Tình yêu phải đi liền với trách nhiệm, trách nhiệm với tình yêu của mình. Nhưng nhiều người, chỉ động lòng trong chút xíu, và chỉ mang cho người ta một chút hạnh phúc, rồi những năm tháng sau đó chỉ là dằn vặt, rồi tự xưng đó là tình yêu, nhân danh tình yêu.
Khi bạn nói yêu một ngưởi, thì bạn phải có trách nhiệm với tình yêu đó. Bạn có thể bảo vệ đựơc nó, đừng làm người bạn yêu tổn thương, dù cách này hay cách khác, đó mới là tình yêu, mới có quyền được nói tiếng yêu. Còn không? thì đừng bao giờ dễ dãi thốt ra 2 từ đó.  Và khi thốt ra từ đó, người nhận sẽ đặt cả niềm tin vào bạn, và nếu bạn không thể làm gì  để họ có thể hạnh phúc, chỉ cho họ những năm tháng mệt mỏi, thì đừng nói có lẽ tốt hơn.
Vì 2 từ đó như một sợ dây xích vô hình, trói buộc người nhận chìm mãi trong những đau khổ khi bạn vô trách nhiệm với nó.
Xem nhiều bộ phim Hàn Quốc, cũng thấy vài cảnh tương tự. Một chàng trai, yêu một cô gái, sau một thời gian yêu nhau, chàng trai bước đi và nói với cô gái rằng không thể bên cạnh cô đựơc, vì gia đình, vì  nhiều tình thế ép buộc, vì cảm thấy mình không thể mang lại hạnh phúc cho cô gái, sẽ có một người tốt hơn anh ta mang lại hạnh phúc cho cô gái. Và anh ta đi, không quên tái bút: vẫn mãi yêu em. Thế đấy, chính vì lời nói đó làm cho cô gái mãi đau đớn trong suốt một thời gian dài. Yêu mà để người yêu mình ở lại, yêu mà để họ khóc, thì đó chẳng thể là tình yêu.
Nếu yêu một người, dù bận thế nào, bạn cũng dành thời gian cho họ, goi điện thoại,nhắn tin, hay một câu chúc họ ngủ ngon để họ cảm thấy bạn quan tâm họ đến nhường nào. Chỉ cần một chút thôi, nhưng đối với người nhận, đó là cả niềm hạnh phúc.  Đừng viện ra muôn ngàn lí do để họ cảm thấy bạn vô tình như: bạn bận, bạn mệt, bạn phải thế này, bạn phải thế kia. Khi nào bạn bận đến nổi không có thời gian ngủ, không có thời gian để ăn cơm, thì đó mới đích thực là bận, còn không, thì tất cả chỉ là nguỵ biện.
Tôi có một anh bạn, thực sự thì tôi hơi ganh tỵ với bạn gái anh ta. Làm bạn với nhau đã lâu, nhưng thật sự tôi hâm mộ người bạn này. Khi yêu một người, anh ta rất ý thức với tình yêu của mình. Khi đã yêu, dù bận thế nào, mệt thế nào, thì trong ngày, anh ta luôn dành thời gian lúc ngơi ra, trứơc khi ngủ, lúc đang ăn cơm, nhắn tin gọi điện thoại hỏi han người yêu. Không bao giờ để cô gái cảm giác cô đơn. Tôi nghĩ, chỉ đơn giản thế thôi, nhưng đó là một tình yêu đích thực.
Còn bạn, tình yêu của bạn là gì?

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Quá khứ - hiện tại - tương lai

Ai cũng có một quá khứ, nhưng dù nó có tốt đẹp hay đau thương đến đâu thì cũng làchuyện đã qua. Không ai có thế quay ngược thời gian để sống trở lại trong dĩ vãng, vì vậy đừng phung phí thời gian quý báu của mình để lang thang trong dĩ vãng. Danielle Kennedy cho rằng:
“Sự thay đổi hoặc sẽ khép chặt quá khứ của bạn lại, hoặc sẽ mở ra cánh cửa để bạn đi vào tương lai”. Quá khứ đã qua, ngày mai thì chưa tới, vì vậy hãy sống trọn vẹn cho ngàyhôm nay. Trước tiên hãy thay đổi cách nghĩvà cảm xúc của bản thân mình về quá khứ.
Khi cuộc sống đối mặt với những khó khăn, thất bại, cần xét xem điều gì đã xảy ra cùng cách nghĩ và cách làm của mình trong quá khứ như thế nào. Có không ít người chẳng học hỏi được điều gì từ quá khứ. vì giá trị của quá khứ phụ thuộc vào việc có rút ra được bài học gì hữu ích cho bản thân hay không. Không ai có thể làm điều đó thay mình.
Càng nghĩ nhiều đến sai lầm, thất bại trong quá khứ, thì sự tự tin và nghị lực của con người càng giảm. Nếu cứ khư khư ôm lấy quá khứ đau buồn thì con người rất dễ gục ngã. Ngược lại nếu chỉ mãi mê với thắng lợi trong quá khứ thì tương lai càng mờ nhạt. Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể học hỏi từ quá khứ. Giá trị lớn nhất của quá khứ là những bài học mà con người phải trả giá mới có được để áp dụng vào hiện tại và tương lai. Bài học từ quá khứ giúp cho cuộc sống hiện tại tốt đẹp hơn. Vị trí hiện tại khác nhau chỉ có nghĩa là điểm xuất phát khác nhau chứ không quyết định việc con người có thể đi xa đến đâu, dạt được mục tiêu lớn lao cở nào.
Để vươn đến thành công và mưu cầu hạnh phúc cần tập trung sức lực vào những gì quan trọng đang xảy ra trong cuộc sống hiện tại, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất. Tương lai được vun đắp bằng chính những nỗ lực trong hiện tại, ngay cả trong những tình huống xấu nhất cũng cần phải biết cách loại bỏ những điều không đáng quan tâm, để tập trung sự quan tâm vào những gì thật sự quan trọng. Chỉ có thể tậnhưởng được những gì mình đang có khi biết bỏ qua những đau buồn trong quá khứvà cái nhìn tiêu cực về tương lai. Lời khuyên của nhà văn người Anh Charles Dickens là: “Hãy suy nghĩ về những cơ hội may mắn trong hiện tại – điều mà mọi người đều có thể đón nhận; chứ không phải về quá khứ - điều mà người ta chỉ có hối tiếc”. Thái độ sống quyết định sự thành bại ở con người.
Không ai có thể tiên đoán tương lai của mình, nhưng viễn cảnh tương lai sẽ trở nên rõ hơn, nếu biết lên kế hoạch hành động của mình ngay trong hiện tại. Điều đó sẽ giúp con người bớt cảm thấy bất an và có thể chủ động hơn trong hành động. Kế hoạch sẽ là tấm bản đồ hành trình đến tương lai mơ ước, cho dù vẫn cần phải thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với những diễn biến mới. Đó hoàn toàn không phải là lý thuyết suôn, mà được chứng minh bằng vô vàng những tấm gương thành công vượt trội của bao người cả ở nước ta và thế giới.
Cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi sống có mục đích, biết rút ra những bài học bổ ích từ quá khứ để ứng dụng cho cuộc sống hiện tại và chuẩn bị cho hành trình đến tương lai. Hãy học cách phản ứng tích cực trước những biến động của ngoại cảnh.

Hư vô - Trịnh Công Sơn

 Tr một thứ tuổi đời mà cứ mỗi mùa Xuân đến, lòng cứ nhẹ đi những niềm vui mong manh mà lại nặng thêm những nỗi buồn vu vơ không nắm bắt được. Thời trẻ cũng thường có những lúc buồn buồn như vậy. Một thứ buồn vô cớ mélancolic.

***Có người cho rằng đó là nỗi nhớ nhung vô hình về một thứ thiên đường đã bị thất lạc. Một thứ quê quán không có chân dung rõ rệt, không có một địa lý rõ ràng, không biết được mùa màng thời tiết ra sao. Không biết mà vẫn nhớ nhung buồn buồn. Tôi thì lại có lúc thơ thẩn nghĩ rằng nỗi buồn vô thường vô cớ kia là bắt nguồn từ nỗi nhớ về cái quê hương đầu tiên từ cái bào thai trongbụng mẹ. Nhớ về cái cõi ở đó thành hình dần dần trong nỗi vui cùng những lo âu của người phụ nữ.

Cái sự buồn buồn kia không giống chút nào với nỗi buồn bây giờ khi một năm vừa cạn, vừa tàn, vừa tắt. Một mùa xuân bắt đầu cho tuổi này nhưng lại mang đến âu lo phiền muộn cho tuổi khác. Cái thứ tuổi đời khác này cứ mãi giật mình nhìn lại một năm qua đi mà vốn liếng gom góp cho đời chẳng có gì cả, chẳng được bao nhiêu. Hoá ra nỗi buồn này chẳng vu vơ chút nào. Có thể nắm bắt được. Nắm bắt nhưng rồi lại buông ra vì muốn lãng quên, muốn tự tha thứ cho mình. 

Khi một người biết tự tha thứ cho mình thì đồng thời cũng phải biết tha thứ cho kẻ khác. Đừng bao giờ để lại những ân oán trong lòng. Ân oán là những tảng đánặng nề ngăn chặn, giết chết lòng yêu thương. Sống mà không còn khả năng yêu thương được nữa thì cũng xem như đã chết rồi. Tôi yêu và tôi tồn tại. Yêu và tha thứ . Tha thứ và yêu. Sự phản bội đôikhi cũng cần thiết để cho tình yêu đẹp hơn, đậm đà hơn, buồn bã một thứ nhansắc lạ lùng hơn. Từ đó câu thơ ra đời. Tiếng hát ra đời.Có những giấc mộng ngày cũ và có những giấc mộng bây giờ. Giấc mộng nào cũng có một nụ cười an ủi. Nằm sống bên nhau hoặc nằm chết bên nhau điều đó khác xa một lời nguyền rủa. Đừng nguyền rủa và cố quên đi những ai đã mang đến phiền muộn cho ta. Quên và biết quên cũng là một lẽ sống ở đời. Biết quên nên đời bỗng nhiên biết cất tiếng hát. Tiếng hát có thể mang đi trong gió một nỗi ưu phiền nhưng có lúc cũng gửi gắm đâu đây, trong những góc hồn lặng lẽ, những niềm an ủi về một cõi đời, về một cuộc tình chưa trọn.

Hãy đau đớn đi. Biết đau nỗi đau của người khác và của chính mình là dấu hiệu của lòng nhân ái. Cái tín hiệu ấy phát đi và mọi người nhận được. Nhận được và bỗng cảm thấy cuộc đời đáng yêu hơn, bỗng đáng sống hơn và bỗng nhiên thấy rằng chiến tranh giết chóc là điều không có thật. Kẻ làm ra chiến tranh buộc lòng phải gọi là kẻ ngu dốt. Cuộc đời vốn không có thật mà còn rắp tâm huỷ hoại nó. Huỷ hoại một điều không có thật có nghĩa là huỷ hoại hư vô. Hư vô là một tiếng cười bất hoại némtrả lại cho hư không.

Tình yêu cứu vãn hư không. Chỉ có tình yêu mới cứu được cái thứ tuổi đời nặng nề một nỗi buồn không cứu chuộc nổi. Mùa xuân sẽ được phục sinh cho tấm lòng trinh bạch lẫn những đớn đau. Thôi cũng đành, đừng ân hận nữa. Có điều ta làm được và có điều thuộc về hư không...

Tôi đã làm mà không làm được gì cả. Cám ơn cuộc đời đã ưu ái quá nhiều về những điều tôi chưa làm được.


Trịnh Công Sơn

Có những khoảng trống không phải để lấp đầy

Có hai từ thường lặp đi lặp lại trong entry cuả nhiều bạntrẻ, là buồn và cô độc.…Dường như chưa có ai đi qua thời niên thiếu mà không từng trải qua cảm giác đó. Cô độc. Đó là những lúc bạn cảm thấy tâm hồn cô quạnh ngay giữa chốn đông người, đang quây quầnbên người thân mà vẫn thấy riêng mình xa cách, đang cùng bạn bè vui đùa mà vẫn thầm tự nhủ:
”Nào có ai hiểu lòng ta”.…Cô độc. Đó là khi tâm sự ngổn ngang trong lòng mà ko biết tỏ cùng ai, kể cả cha mẹ hay người bạn thân thiết nhất. Là khi ta thấy như mình bị bỏ lại đằng sau trong một thế giới đang rộngra mãi. Là khi ta thấy tràn ngập trong tâm hồn mình một nỗi buồn dai dẳng không tên. Và rất nhiều khi, chỉ là nỗi buồn vô cớ.…
Cô độc là một tâm trạng đáng sợ. Có người trốn chay sự cô độc bằng cách…ngủ vùi. Có ngừoi cố lấp nó bằngniềm vui ồn ào ở vũ trường hay trong những trò games, có người gặm nhấm nó bằng nước mắt. Có ngừoi thăng hoa vào nghệ thuật. Nhưng cũng có người bị nó bủa vây ko lối thoát, để rồi tìm đến cái chết chỉ vì cảm thấy quá cô đơn.
Ít hay nhiều, khi rơi vào sự cô độc, chúng ta đều cảm thấy tâm hồn mình chỉ còn là một khoảng không đáng sợ, và ta tự hỏi:”Phải làm sao để lấp đầy khoảng trống này đây?”
…Nhưng, bạn biết không, những khoảng trống đó không phải để lấp đầy……
Bản chất con người vốn côđơn. Đó là sự thật. Tất cả mọi người đều có lúc cảm thấy cô độc. Cả những ngườicởi mở, vui tính nhất hay những ngừoi, đang chìm đắm trong hạnh phúc vô biên, vẫn luôn có những khoảnh khắc ko thể chia sẽ cùng ai. Những khoảng trống mà ở đó chỉ mình ta ôối diện với chính ta. Không phải vì chia tay một người bạn, hay mất đi một ngừoi thân, hay khi một mối tình tan vỡ thì nó mới xuất hiện. Khoảng trống đã có sẵn ở đó rồi. Luôn luôn ở đó, trongmọi con ngừoi.…
Tôi sẽ đọc cho bạn nghe bài thơ haiku này:
” Những lỗ trống trong củ senKhi ta ăn
Ăn luôn cả nó”…
Bạn thấy chăng? những lỗ trống là một phần của củ sen, cũng như sự cô độclà một phần của đời sống. Vì vậy, hãy nhìn thẳng vào nó. Đừng ngại nói:
”Tôi đang buồn. Tôi cảm thấy cô độc” nếu bạn muốn được chia sẻ.
Nhưng cũng đừng ngại nói:
”Hãyđể tôi một mình lúc này” nếu bạn thực sự muốn như vậy. Đừng ngại vì đó là điều bình thừơng. Tất cả mọingười trên thế gian này đều thế. Chỉ khác nhau ở một điều: cách chúng ta đối xử với nó. Nỗi cô đơn tạo thànhnhững khoảng trống, bạn càng muốn trốn chạy thì nó càng muốn bám đuổi. Bạn càng muốn vùi lấp nó thì nó càng dễ quay lại vùi lấp chính bạn. Điều chúng ta nên làm là đừng tìm cách lấp đầy khoảng trống ấy, nhưng cũng đừng để nó lấp đầy chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản nhận ra sự hiện hữu của nó, và bình tĩnh đối diện với nó.…
Người ta gọi tuổi mới lớn là:”tuổi biết buồn”. “biết buồn” tức là chạm ngõ cuộc đời rồi đó. Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của khoảng tróng trong tâm hồn. Biết buồn là khi nhận rarằng có những lúc mình cảmthấy cô độc. Khi đó hãy dành sự cô độc một khoảng riêng, hãy đóng khung sự côđơn trong giới hạn của nó, như một căn phòng trống trong ngôi nhà tâm hồn. Mỗi lần vào căn phòng ấy, dù tự nguyện hay bị xô đẩy, thì bạn vẫn có thể điềm tĩnh, tranh thủ khoảnh khắc đó đểkhám phá bản thân trong sự tĩnh lặng. Để rồi sau đó, bạn bình thản bước ra, khép cánh cửa lại và trở về với cuộc sống bề bộn thường ngày, vốn lắm những nỗi buồn nhưng cũng ko bao giờ thiếu niềm vui…

Bài không tên cuối cùng và bài không tên cuối cùng tiếp nối

thTrong số chùm ca khúc 10 bài không tên của nhạc sĩ Vũ Thành An (vì không biết đặt tên là gì cho đúng nên gọi là "Bài không tên số..."), "Bài không tên cuối cùng" có lẽ là bài hay nhất. Bài hát chất chứa đầy tâm trạng rất thật của một chuyện tình buồn.
"Nhớ em nhiều nhưng chẳng nói, nói ra nhiều cũng vậy thôi!
Ôi! đớn đau đã nhiều rồi, một lời thêm càng buồn thêm
Còn hứa gì?
Biết bao lần em đã hứa...
Hứa cho nhiều... rồi lại quên.
Anh biết tin ai bây giờ?
Ngày còn đây, người còn đây
Cuộc sống nào chờ?
Này em hỡi!
Con đường em đi đó
Con đường em theo đó
Sẽ đưa em sang đâu?
Mưa bên chồng, có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng?
Này em hỡi!
Con đường em đi đó,
Con đường em theo đó
Đúng hay sai em?
Xa nhau rồi
Thiên đường thôi lỡ cho thần tiên chấp cánh
Xót đau người tình si!
Suốt con đường ai dìu lối
Hãy yêu nhiều người em tôi!
Xin gửi em một lời chào, một lời thương, một lời
yêu lần cuối cùng."
http://www.nhaccuatui.com/nghe?
M=p0Hg8q08tt

(hát cho một ngày buồn...)
"Này em hỡi! con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng hay sai em?" Có cần thiết phải hỏi không? Mà bây giờ người ta cũng chẳng hỏi nhau nữa, cứ thế mà đi thôi, vội vã mà đi thôi... Chỉ có câu hỏi của người ca sĩ là da diết "ước ao có một ngày, gặp lại em, hỏi chuyện em..."
Bài Không Tên Cuối Cùng ra đời năm 1965, lúc Vũ Thành An được 22 tuổi, khi bị chấn động tinh thần mạnh vì cuộc tình gẫy đổ. Bài hát này được hát đi hát lại nhiều lần ở khắp nơi đã ảnh hưởng tới người bạn cũ của ông. Điều này làm ông hối tiếc đã viết ra những điều không nên nói. Ông đã nghĩ là sẽ không bao giờ có cơ hội nói lại những điều mình không nên nói ấy. Mãi cho đến năm 1991, ông đã viết lại Bài không tên cuối cùng tiếp nối (gọi là "Bài không tên cuối cùng trở lại") để chuộc lại những lời đau đớn mà trong Bài không tên cuối cùng đã viết ra khi quá đau khổ vì bị phụ tình.
"Này em hỡi! con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng đấy em ơi!
Nếu chúng mình có thành đôi lứa chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau?"
Nhạc tình Vũ Thành An là một kết hợp của âm điệu nhẹ nhàng, lả lướt với lời hát như quyện vào tâm hồn người nghe. Những diễn tả đau thương, trách cứ, giận hờn theo từng cung bậc ập vào tâm khảm đến rã rời, đến ray rứt. Ai chẳng từng yêu, chẳng từng xót xa, lo âu? Thế nên cuối thập niên 60, tới đầu thập niên 70, một chuỗi sáng tác của Vũ Thành An được đón nhận nồng nàn và nghiễm nhiên trở thành những bản "Nhạc Tình Vũ Thành An", một dấu ấn lãng mạn của một thời "Bài Không Tên Cuối Cùng" không phải là bản nhạc cuối cùng, không phải là hết, mà đó là kỷ niệm cuối cùng của một cuộc tình. Những bản "không tên" là để dấu tên những người bạn liên quan đến những bài hát ấy.

Bài không tên cuối cùng trở lại
"Nhớ rất nhiều câu chuyện đó
Ngỡ như là ngày hôm qua!
Ôi! ước ao có một ngày được gặp em, hỏi chuyện em lần cuối cùng.
Vẫn con đường, con đường cũ...
Vẫn ngôi trường, ngôi trường xưa..
Mưa vẫn bay... như hôm nào...
Người ở đâu? mình ở đây bạc mái đầu!
Này em hỡi! con đường em đi đó, con đường em theo đó chắc qua bao lênh đênh.
Bao gập ghềnh có làm heo hắt, có dập tắt mất nét tươi nở nụ cười?
Này em hỡi! con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng đấy em ơi!
Nếu chúng mình có thành đôi lứa chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đầu?
Nếu không còn được gặp nữa
Giữ cho trọn ân tình xưa
Xin gửi em 1 lời nguyện "Được bình yên, được bình yên về cuối đời"
http://www.nhaccuatui.com/nghe?
M=6Z63Z1Rnwm

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Có nghe ra điều gì

Nỗi bất hạnh lớn nhất của chúng ta là luôn luôn có một kẻ thù để chống lại. Trong suốt hành trình của lịch sử, những kẻ thù mang tên khác nhau. Bất hạnh lớn dần để trở thành hiểm họa khi hai kẻ thù nghịch mang cùng một tên chung.
Tôi chưa bao giờ được biết về sự công bằng. Nhưng tôi muốn rằng những xác chết anh em phải được chia đều lòng thương tiếc. Trên những nhân danh chúng ta không cúi đầu, nhưng chúng ta phải quàng vòng hoa phúng điếu cho phận người hiu hắt. Chân lý chưa biết nằm ở đâu, nhưng tôi tin rằng chân lý không đến từ bạo lực.
Đời sống Việt Nam đã dạy chúng ta những bài học vĩ đại. Dạy biết từ một tấm lòng nhỏ nhen đến một tâm hồn cao cả. Dạy từ mưu toan giết chết một người đến kế hoạch giết chết hàng vạn người. Chúng ta biết rõ từ một tên hề mặt phấn môi son đến một tên ngụy quân tử.
Làng mạc, núi rừng đã thành đấu trường. Phố thị làm sân khấu.Thời thơ ấu, qua những bài học lịch sử, lòng tôi xao xuyến biết bao về những tấm gương ái quốc. Tôi đã yêu mến những biêngiới quê hương như vòng tay người mẹ ôm hôn che chở đàn con. Lòng tôi, những biêngiới cũng được dựng lên từ đó. Không phải những biên giới của thù hận mà chỉ là lằn mức địa lý chia những cuộc chơi riêng đầy quen thuộc và thân ái.Lớn lên, tôi dần dần rơi vào những hoài nghi. Những hoài nghi như đám mây đen, đe dọa cơn bão lớn. Tôi biết rằng khi cơn bão đến, những gì đẹp đẽ được nuôi dưỡngtừ ấu thơ sẽ bị cuốn phăng đi.
Đã bao nhiêu năm tháng tôi ngồi nhìn những mùa nước lên. Thành phố Huế mỗi năm đều có những cơn lụt. Một đôi lần lụt lớn, nước nguồn ồ ạt mang về bao nhiêu của cải của rừng sâu: voi, cọp, bò rừng, trăn, gỗ quí… Vốn liếng ẩn giấu của thiên nhiên lao đi trong một tốc độ cuồng nhiệt. Tất cả đều ngơ ngác, lạc lối, trần trụi.
Nhiều lần, tôi đã mong được thấy những giá trị hão huyền, bén rễ sâu xa trong tâm não tôi, được tống ra ngoài, trong cách thế đó.
Tôi không phải là kẻ dễ mất niềm tin, nhưng trong tôi, rất vô tình những trái độc đã làm mùa của chúng.
Tôi đã đi qua nhiều thành phố của quê hương. Mỗi nơi đều có những đêm gặp gỡ cùng tuổi trẻ. Chúng tôi nuôi dưỡng hy vọng và gửi đến nhau sự phân ưu chung bằng tiếng hát. Chính trong lúc, khi tiếng vỗ tay đập vào nhau nhịp nhàng và đều đặn cùng tiếng hát, lòng tôi bỗng chùng lại trong một ái ngại vô bờ. Tôi bỗng muốn thu mình thành một bóng tối nhỏ trước những con mắt trong sáng vây quanh. Với những trái tim quí báu kia, có thật tôi đã mang đến một điều gì tốt đẹp?
Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn. Nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi.
Quanh tôi, bỗng dưng những chấn song được dựng lên. Những chấn song dù êm ái nhưng làm mỏi mệt. Mỏi mệt vì tôi biết rõ mình chỉ cưu mang nổi một tiếng thở than quá ư phù du từ một con tim bén nhạy. Đời sống chung quanh thì tự bản chất vốn hủy hoại và vô tình. Tôi không đủ là một con đê hay một báo hiệu mới mẻ.
Nhưng dù sao, mọi sự đã lỡ. Lịch sử đã lỡ lên đường và tôi cũng đã lỡ để một bàn chân trong cơn xung động.
Mọi sự hoàn tất đều có đôi chút bị hiểu lầm. Người trong cuộc mới thấu hiểu được cái tang thương của từng kết quả. Lịch sử có niềm đau riêng của nó. Cá nhân cũng có cái xót xa riêng. Bởi lẻ chưa có một tổnghợp đích xác nào về thân phận con người. Vũ trụ luôn luôn biến đổi, làm sao toan tính nổi. Cho nên điều hiển nhiên là mọi sự thành tựu càng lớn lao, càng ẩn giấu niềm tuyệt vọng.
Mỗi dự phóng về hạnh phúc con người đềulà nguồn cội của hố thẳm. Luôn luôn có sự nhầm lẫn về chữ nghĩa. Người ta đánh bóng sự đổ vỡ và gọi đó là niềm bi tráng của phận người. Dự phóng càng lớn, càng dài càng xa cách con người. Và tất nhiên càng mở rộng hố thẳm. Đến lúc đạt được đỉnh cao thì chính là lúc kề cận nhất với vực sâu. Và có thực sự đó là một đỉnh cao?
Vì thế, tôi gọi những kẻ muốn lấp biển vá trời là những con người đam mê tuyệt vọng. “Mọi đam mê đều vô ích”. Đam mê tuyệt vọng dẫn ta về hư vô. Bao nhiêu cánh cửa hư vô đã mở toang cuối những chặng đường đẫm máu của lịch sử nhân loại. Những thế hệ về sau, khi lần giở lịch sử ông cha, giữ cái án chung thân trong ý thức cùng niềm im lặng. Từ đó, nói đến ý thức trong thời đại chúng ta là muốn nhắc lại cái ý thức về sự tịch lặng. Sự tịch lặng của những vết thương trời đất và trong lòng. Cõi vô âm của mọi chủ thuyết, mọi triết lý. Đời sống đã mất hẳn sự bình an. Những con đường nhân sinh không có chốn đến. Sở tại chính là sự ra đi. Ra đi để biết rằng quê quán chỉ là tiếng hoàng oanhtrên đời người khổ hạnh. Là một an ủi thoáng qua. Là “nền cũ lâu đài bóng tịch dương” để ngậm ngùi.
Trong đời sống chúng ta, thiếu gì những trái tim vững chãi. Đâu thiếu những ý lực siêu nhân. Mỗi khi ý thức được vót nhọn người ta có cảm tưởng sẽ bắn rụng những niềm tuyệt vọng chung quanh. Nhưng hỡi ơi, niềm tuyệt vọng đã ẩn trú trong đường bay của ý thức đó. Ý thức càng được vót nhọn, niềm tuyệt vọng càng đào những hang sâu. Trái tim con người, nếu không biến thành mộ địa, sẽ vang lên tiếng tru thảm thiết của loài sói.
Những ngày mệt mỏi tôi thường tìm về bênmột dòng sông. Nơi thành phố của quá khứ. Một quá khứ chưa đủ dài nhưng đã thừa thãi tang thương. Thành phố trên bề mặt yên tĩnh có những cơn sóng ngầm đáng ngại. Những ngọn lửa ủ dưới tro than,đã liên tục tạo những cơn phong ba, đã làm bật rễ những triều đại.Những hoạn nạn, qua nhiều thời kỳ không đếm xiết. Nhưng mỗi lần có cơ hội trở lại đời sống bình thường thành phố lại mang khuôn mặt thơ mộng và nhẹ nhàng của những ngọn phong lau trong thành cổ.Về những năm sau này thành phố có vẻ tiêu điều hơn trước. Mỗi cơn hoạn nạn thường mang đi ít nhiều bạn bè. Tôi như con bệnh kinh niên, mỗi lần trở về tĩnh dưỡng, có cảm tưởng về thăm một cố tri hơn hơn là một thành phố. Vẻ xác xơ như khởi chung từ một mối. Không như ngày xưa, tôi vui chơi trong thành phố. Bây giờ chúng tôi song hành trong niềm tư lự.Ngồi bên dòng sông, nhiều đêm tôi nghe ra những đổi thay quá lớn. Huế quả thực đã biến đổi rất nhiều. Những cuộc biển dâuvô hạnh đã giết chết phần nào tình cảm đẹp đẽ nơi đây. Huế ngày xưa ấm áp biết bao. Nay đã quá lạnh lùng. Vẻ lạnh lùng sương phụ. Trong những hoàn cảnh nghiệtngã người ta không còn nhìn nhau bằng con mắt cũ. Đã thấp thoáng thấy dưới những trũng mắt năm xưa, những bình phong e ngại. Ngờ vực là phải. Thời đại củađố kỵ, tỵ hiềm đã thành hình từ bao giờ mà không hay. Không phải chỉ riêng nơi đây. Nơi nơi đều thế. Tôi đã qua nhiều thành phố. Đã góp mặt. Cuối cùng mới vỡ lẽ ra, mỗi nơi đều đã thành tựu những sâu khấu và những đấu trường bỏ túi. Những tuồng tích được soạn sửa cẩn mật. Mỗi người đóng dăm ba vai trò. Đám giả hình múa những đường gươm vừa khắc nghiệt vừa chu đáo.
Nhiều đêm trở về, xương sống bỗng buốt lạnh. Bởi đâu đây, luôn luôn sẵn sàng những nhát dao không minh bạch. Phải sống thường trực trong khí hậu như thế làm sao khỏi e dè.Tôi biết rõ phần nào mình đã đuối sức. Những tiếng hát hân hoan nhiều khi chỉ để lấp liếm sự phiền não. Có cái gì gần như những vết hoen trên một phía của nạn đời. Dường như tôi đang ẩn thân ở mặt đời không kiêu hãnh. Nơi có nhiều bóng tối và sự tròn lẵn vô liêm.
Không phải mọi chọn lựa đều bế tắc. Nhưng tôi không dại gì tự dẫn mình đến một pháp trường bất xứng. Trong cuộc sống nhiễu nhương nơi đây, sống đã là một cách chọn lựa. Ai cũng có một lần phủi tay với cuộc đời. Cho nên những chọnlựa nhỏ nhặt chỉ làm hao mòn ta thôi. Nếu đủ sức giương cung, hãy chọn mũi tên định mệnh.
Tôi rất buồn bã khi nhìn thấy những tâm hồn đẹp đẽ quanh đây bị cuốn hút vào những chọn lựa trào lưu. Những chọn lựa có vẻ đẹp bề mặt. Những chọn lựa không can dự gì với ý thức. Hay nếu có, chỉ là loại ý thức con vẹt.
Trong cách thế đó, chọn lựa chỉ còn có nghĩ là hủy hoại. Tự hủy và kéo theo nhữngcái chết thanh xuân.Tôi không có ý ngờ vực lòng can đảm. Nhưng tôi sợ hãi ngộ nhận.
Hãy chọn lấy lời phán xét. Nếu cần làm tên tử tội, ta chỉ là tên tử tội của định mệnh riêng tư. Đừng mơ mộng trên xương máu. Chưa bao giờ tôi nghe được một tiếng hát nói về sự sinh nở tốt đẹp của hận thù. Gắng che chở cho tâm hồn. Nấm hoang đãmọc quá nhiều trên đó.
Trong thành phố, mùa hạ có những cơn bão qua. Một ít mùa màng và hoa quả không đậu. Vào buổi lập thu, bỗng dưng những hồ ao quanh thành cổ thơm tho một mùa sen muộn. Những sớm mai âm u đi về dưới cổng thành, lòng tôi bất ngờ có những nỗi hân hoan kỳ lạ. Một cái gì gần như niềm hy vọng vừa nhú lên. Tôi nghĩ rằng tuổi trẻ quanh đây, qua những bất hạnh quá đủ, sẽ tạo dựng được cái mùa muộn màng của sự thật. Sẽ khởi công từ những ước mơ chân thật. Những phát biểu mới sẽ là những đường gươm sắc bén chém rụng huyền thoại. Mỗi bước đi tới tuổi trẻ tự cưu mang lấy mình, không nương nhờ nữa. Mỗi người là hy vọng của chính mình. Giải thoát quyết liệt khỏi những khối nam châm phù thủy. Bấy lâu, sự sợ hãi đã làm rêu phong trên đời ta. Những sự thật tối tăm được chở che an toàn. Những nhầm lẫn không bị truy tố. Có lẻ không phải vì thiếu lòng can đảm. Chúng ta dường như là những đứa con quátình cảm, không nỡ buộc tội ông cha.
Nhưng đã muộn. Chúng ta đang chênh vênh trên con dốc hủy diệt. Cái gia đình chung đã có lắm điều tồi tệ.
Chúng ta được thương xót từ mọi phía. Được vỗ tay từ khắp nơi. Bị chê bai cũng lắm. Nhưng sá gì những lời bình phẩm kia.Hãy bắt đầu phá bỏ đấu trường. Phá bỏ sân khấu. Vở tuồng đã quá dài. Bao nhiêu năm nay, chúng ta đã nuôi nấng tình cảm nhân loại bằng tấm thảm kịch quá lớn. Không thể tiếp làm những diễn viên giác đấu nữa.Chúng ta hiểu rõ hạnh phúc ở đâu. Trên con đường đã qua tuyệt nhiên không có.Dù thế nào cũng đã ra đi. Chỉ xin được ra điêm ái. Những đứa con nhân loại đã thật sự mất dấu về quê quán cũ. Đã bao nhiêu sa mạc. Sa mạc quả là mênh mông. Chúng ta đang cần chút nước cho hành trình. Những thiệt thòi đã đủ lớn lao. Điều cần nhớ là đừng để cả một dân tộc bị hụt hơi vì vô vọng.

1973
Trịnh Công Sơn (Trích: Bửu Ý – Trịnh Công Sơn Một Nhạc Sĩ Thiên Tài – 2003)

Nỗi lòng của tên tuyệt vọng

Nỗi lòng của tên tuyệt vọngTiếng nói thầm kín của một người nhiều khi suốt cuộc đời không thể nào bày tỏ. Cókhi bày tỏ được thì cũng là những tiếng nóidở dang. Có người giấu bặt. Tôi chưa hề quên cái hiệu lệnh muôn đời: “Cái ta đáng ghét”. Tuy nhiên trong cuộc sống thường nhật nơi đây, ngoài những ngày hét la to đầy nộ khí, vẫn có những giây phút lui về muốn thở than. Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn của con người.Mỗi đời sống ẩn giấu một định mệnh. Có những định mệnh đời đời là cây kiếm sắc. Một đôi lần trong giấc mơ tôi, bừng lên những ánh thép đó. Nhưng tôi biết rõ rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau. Không ai muốn mình là kẻ tuyệt vọng. Nhưng tôi tự nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi nhiều khi sớm mai tôi thức dậy không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim người.Tôi lại biết thêm rằng, dù là người chiến thắng hay chiến bại, suốt cuộc đời cũng không thể vui chơi.  Hạnh phúc đã ngủ yêntrong những ngăn kéo của quên lãng.Tôi không bao giờ nhầm lẫn về sự khổ đau và hạnh phúc. Nhưng tôi thường rơi vào cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hoảng hốt thấy mình lơ lửng giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ chụp lấy tôi mỗi đêm. Khi quanh tôi, mọingười đã yên ngủ. Và tôi đau đớn nhận ra rằng, có lẽ cuộc đời đã cho ta lắm ngày bấthạnh.Mỗi ngày sống tới, mỗi ngày tôi thấy đời sống nhỏ nhắn thêm. Ðời sống thật sự không tiềm ẩn điều gì mới lạ. Có lẽ vì thế, vìsự quen mặt mỗi lúc mỗi gần gũi, thắm thiết hơn, nên tôi càng thấy yêu mến cuộc đời.  Như đứa con ngoan không tuyệt tình nổi với rẫy sắn nương khoai, nơi có bà mẹ suốt đời mắt không sáng nổi một ngày trẩyhội.Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi vàcuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọn g và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như mộtbông hoa.  Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại.  Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường.Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới. Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Ðôi khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng học vẽ lại chân dung của nhân loạị Vẽ lại con tim khối óc. Trên những trang giấy trắng tinh khôi chúng tôi không bao giờ còn thấy bóng dáng của những đường kiếm mưu đồ,những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ những đất đai, trên đó đời sống không còn bạo lực.Như thế, với cuộc đời, tôi đã ôm một nỗi cuồng si bất tận. Mỗi đêm, tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Ðời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm.Chúng ta đã đấu tranh. Ðang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người,chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi nguồn từ khước tước hiệu đó.Chúng ta đã đấu tranh như một người trẻ tuổi và đã sống mệt mỏi như một kẻ già nua. Tôi đang muốn quên đi những trang triết lý, những luận điệu phỉnh phờ. Ở đó cóhai con đường. Một con đường dẫn ta về ca tụng sự vinh quang của đời sống. Con đường còn lại dẫn về sự băng hoại.Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Ðóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân…Những đấng tối cao, có lẽ đã ngủ quên cùng với chân lý.Tôi đã mỏi dần với lòng tin. Chỉ còn lại niềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác.Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.

Chợt tôi thấy thiên thu là một đường không bến bờ

Những con đường trăng tròn là những con đường trăng khuyết. Vẫn là những con đường cũ en đi qua và tôi đi qua. Thế rồi, có những lúc tôi đi qua những con đường mù mịt không trăng. Những tro tàn quá khứ bỗng dậy lên một cơn lốc cuốn tôi về với những con đường ma quái ảo ảnh chập chờn.
Cái chập chờn của một thân thể phiền não không biết mai nay mốt nọ ra sao, cứ thắc thỏm muốn gởi gắm vào cuộc đời một linh hồn phiêu lạc.
Tôi phiêu lạc bao nhiêu năm rồi trên một dòng đời không bờ bến. Có khi tưởng bờ là bến. Có khi tưởng bến là bờ. Cái tạm và cái thường hằng lắm khi là một. Thế mà cứ lại là khác nhau. Cái bờ mỏng manh khoảnh khắc ra đi. Cái bến nhiều khi bền bền ở lại. Bờ mở ra những bến. Có dâu bể cho bờ. Nên định mệnh bờ thường trói buộc thân phận bến.
Tôi là bờ em ra đi. Em là bến tôi ghé lại Con đò ghé qua bờ này bờ nọ, nhưng sẽ đậu lại ở một bến kia.
Mùa xuân là bờ hay bến? than ôi, mùa xuân chỉ là bờ. Ai ai trong đời này cũng có lần ghé qua cái bến tạm mùa xuân. Cái bờ bến mùa xuân nhập nhằng những dặm trường lận đận. Thoắt nhiên bến xuân chỉ còn lại là bờ. Cái biến đi qua, rồi cái bờ ở lại. Cái bến hiu hắt của một thuở tưởng rằng thời hoàng kim bến sẽ mãi mãi khôngbao giờ là bờ. Thế rồi tuổi đời người người -đến đến – đi đi cứ mộng vờ, hoang tưởng hão huyền một thứ bờ bờ – bến bến, không biết nơi nào để neo lại một thân thể phiêu bồng.
Có thể bến cho em và bờ cho tôi. Tôi cứ mãi đi và em ở lại. Cái thân phận thuyền quyên ấy đừng làm đau xót đời. Cuối cùng, trong cõi mông lung mờ mờ ảo ảo, em vẫn chính là cái bến hư ảo một cách vẹn toàn mà tôi có lúc mỏi mệt sẽ tìm về nương tựa.“ Ru đời đi nhé cho ta nương nhờ lúc thở than”…Cái bờ ru lời hiu quạnh lau lách. Cái bến ru chập chờn một đốm lửa chiều…Trong một giấc ngủ bồng bềnh không giờ giấc của mùa xuân, tôi thảng thối thấy bờ bến bỗng rã tan thành những cánh bèo mông lung vô định. Em tôi không bến và tôi không bờ. Em trôi đi và tôi cũng trôi đi. Em và tôi cũng là bến. Em và tôi cũng là bờ. Chúng ta tan biến vào nhau thành một khối bến bờ không còn chia lìa nữa. Trong em không còn trí nhớ về bến. Trong tôi cũng mất hết những ký ức về bờ. Bến ở đâu và bờ ở đâu?1-2-1994Trịnh Công Sơn

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Dừng bước giang hồ - sáng tác Hoàng Trọng

Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều, vương về bên quán tiêu điều
Vầng trăng hoen úa, như lá vàng rơi cuối Thu
Lững lờ soi mấy hàng cây u sầu đang ngắm trời mây

Ngày nào xa khi dấn bước trong phong sương
Từng bầy én tung bay muôn ngàn hướng
Dừng đây nơi cũ nghe tiếng diều trong gió Thu
Vương hòa nên khúc nhạc thư, tâm hồn ta lắng nguồn mơ

Tới đây nơi xưa, gió êm êm đưa áng mây trôi tới xa xôi khuất nơi sau đồi
Quán tranh xiêu xiêu, chốn đây cô liêu, nhắc cho ta biết bao nhiêu dáng xưa yêu kiều

Tiếng ca xa xa lắng trong bao la, với tiếng ru khẽ rung lên trong chiều gió
Đã bao năm qua, sống nơi phương xa, về phương cũ đành dừng bước chân giang hồ

Dừng Bước Giang Hồ - Khánh Ly: http://youtu.be/aIMt504ncx4

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Chuyện tình đẹp như thơ buồn như nước mắt của nhạc sĩ Lam Phuong - ca sĩ Túy Hồng


Đối với nhiều người, Lam Phương là nhạc sĩ tài hoa bậc nhất Sài Gòn trước năm 1975 với những tác phẩm để đời như Khúc ca ngày mùa, Kiếp nghèo, Phút cuối, Tình bơ vơ, Thành phố buồn... Còn Túy Hồng cũng là nữ nghệ sĩ đa năng bậc nhất Sài Gòn khi ấy, khi bà vừa là ca sĩ, kịch sĩ...
Trai miền Tây gặp gái miền Đông
Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937, tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tuổi thơ của Lam Phương là một chuỗi ngày dài buồn đau và bất hạnh. Nhà nghèo, cha của ông đi theo tiếng gọi của tình yêu mới, bỏ 6 người con tuổi còn thơ dại cho người vợ không nghề nghiệp ổn định, một mình tảo tần hôm sớm nuôi con. Năm ông mười tuổi, mẹ gửi ông lên Sài Gòn, ở nhà của người bác ruột để ông được học hành, nhờ đó mà lịch sử tân nhạc nước nhà có được một nhạc sĩ Lam Phương.
Lên Sài Gòn, Lâm Đình Phùng học ở trường Les Lauriers. Ngoài giờ học văn hóa, ông còn học thêm nhạc. Ông tự học guitare bằng các tài liệu tiếng Pháp do lúc đó ở Việt Nam chưa có sách dạy nhạc tiếng Việt. Thấy ông là một học trò nghèo nhưng chăm chỉ, các thầy dạy nhạc (nhạc sĩ Hoàng Lang, nhạc sĩ Lê Thương) tận tình chỉ dạy cho ông mà không nhận tiền thù lao. Năm 1952, sáng tác đầu tay của ông, nhạc phẩm Chiều thu ấy ký tên Lam Phương ra đời. Ông vay tiền của bạn bè để mướn nhà in in nhạc, sau đó thuê xe chở nhạc đi bán lẻ khắp Sài Gòn. Năm ấy, ông mới 15 tuổi.
Thành công với tác phẩm đầu tay, Lam Phương càng miệt mài sáng tác.  Ba năm sau, Lam Phương tung ra hàng loạt ca khúc viết về quê hương, trong đó nổi tiếng nhất là Trăng thanh bình, Nắng đẹp miền Nam, Nhạc rừng khuya, Khúc ca ngày mùa... Đặc biệt, nhạc phẩm Khúc ca ngày mùa thành công vượt bậc hơn cả. Bản nhạc được viết theo thể loại nhạc đồng quê, nhịp điệu Mambo, với âm giai bằng cung rê thứ. Các hãng đĩa nhựa như Dư âm, Sóng nhạc, Asia... tranh nhau ký hợp đồng với Lam Phương để được thu âm bài hát Khúc ca ngày mùa này, tiếng tăm của bản nhạc mới thật sự bùng nổ. Với tiếng hát điêu luyện của đôi song ca tài danh Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, lúc hợp, lúc bè, lúc đuổi như càng đưa bài hát lên chín tầng mây. Khúc ca ngày mùa còn được hầu hết các trường học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long chọn để dạy cho học trò ca múa. Lam Phương đã thật sự thành danh khi ông mới 18 tuổi.
Túy Hồng tên thật Trương Ánh Tuyết, bà sinh ra tại Bình Dương và lớn lên tại Sài Gòn. Túy Hồng có người anh trai là bạn thân của Lam Phương, những ngày thứ bảy và chủ nhật, Lam Phương thường đến nhà bạn để hòa nhạc và dạy hát cho Túy Hồng. Túy Hồng rất ngưỡng mộ Lam Phương vì mới 15 tuổi mà đã sáng tác được bài Chiều thu ấy. Về phía Lam Phương, nhạc sĩ trẻ này cảm thấy chưa có cô gái nào hát nhạc mình hay bằng Túy Hồng. Thời điểm này, Lam Phương lại đang hợp tác với ban nhạc kịch lớn Dân Nam nên đề nghị Túy Hồng cùng với mình đầu quân về đoàn. Kể từ đó, Túy Hồng bắt đầu trình diễn các ca khúc của Lam Phương và rất thành công với các ca khúc: Đèn khuya, Kiếp nghèo, Kiếp ve sầu, Tiễn người đi, nhất là hai bản Chiều tàn và Phút cuối.
Đưa nhau lên đỉnh vinh quang
Lam Phương -Túy Hồng cưới nhau năm 1959. Lúc đó, ngoài phần phụ trách nhạc cho ban kịch Dân Nam, Lam Phương còn viết nhạc nền cho các ban kịch lừng danh thời đó như: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng. Đến năm 1968, với sự động viên của chồng, Túy Hồng đứng ra thành lập riêng một đoàn kịch - Đoàn kịch “Sống -Túy Hồng”.
Chính đoàn kịch này đã đưa tên tuổi của Lam Phương và Túy Hồng lên tột đỉnh vinh quang. Đoàn kịch Sống -Túy Hồng còn có một lợi thế mà ít ban kịch nào có được, đó là ban kịch đưa các bài tình ca vào các vở diễn thành công nhất, nhờ phần lớn các bài hát tuyệt vời của người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương, thời điểm đó là đức phu quân của Túy Hồng. Kịch do Sống -Túy Hồng dựng không quá bi thảm, kết thúc luôn dành chỗ đứng cho một niềm hạnh phúc nào đó, khán giả xem kịch Sống -Túy Hồng thường ra về với một tâm trạng nhẹ nhõm.
Tất cả những vở kịch của ban kịch Sống -Túy Hồng (do Túy Hồng đóng chính) đều ghép nhạc của Lam Phương vào phần ngoại cảnh, làm cho vở kịch sống động hơn, truyền cảm hơn, thu hút người xem nhiều hơn. Ngược lại, mỗi nhạc phẩm của Lam Phương vừa ra đời đều được “giới thiệu” trong một vở kịch của Túy Hồng. Thời ấy, cứ mỗi tối thứ năm hàng tuần, Đài truyền hình Sài Gòn có tiết mục “thoại kịch” và những vở kịch của ban kịch “Sống -Túy Hồng” bao giờ cũng thu hút nhiều người xem. Thời ấy truyền hình còn hiếm, người ta kéo nhau đến những nhà có tivi để xem kịch “Sống -Túy Hồng”, trong nhà, cửa ra vào, ô cửa sổ... đều chật cứng người xem. Tôi còn nhớ, khi bài hát Thành phố buồn của Lam Phương được hát dìu dặt trong suốt một vở kịch của Túy Hồng phát trên truyền hình, sáng hôm sau bài hát ấy bán đắt như tôm tươi, chàng học sinh, sinh viên nào cũng muốn mua bài Thành phố buồn về để trên kệ sách.
Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại phong phú, hầu hết các ca khúc ông đưa ra đều in đậm dấu ấn trong đời sống âm nhạc miền Nam, điển hình như Chờ người, Tình bơ vơ, Duyên kiếp, Thành phố buồn, Tình chết theo mùa đông...
Ông bước lên vị trí một nhạc sĩ thành công nhất miền Nam về mặt tài chánh. Còn bà Túy Hồng cũng sánh ngang với những Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng trên sân khấu kịch nghệ. Vợ chồng Lam Phương – Túy Hồng cất nhà lầu, sắm xe hơi, trở thành đôi vợ chồng nghệ sĩ giàu có bậc nhất lúc bấy giờ. Sáng 30.4.1975, vào phút chót Lam Phương – Túy Hồng đã nghe theo người bạn đem gia đình lên tàu Trường Xuân ra khơi. Vì trước đó không có ý định ra đi, nên Lam Phương xuống tàu với 2 bàn tay trắng, bỏ lại hai căn nhà lầu, chiếc xe hơi mới toanh và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng (lúc đó vàng 9999 chỉ khoảng 36.000 đồng/lượng).
Buồn như nước mắt
Đến định cư ở Mỹ, để có tiền nuôi vợ con, Lam Phương phải làm đủ thứ nghề, từ lau sàn nhà, dọn dẹp cho hãng Sears, đến những việc nặng nhọc như thợ mài, thợ tiện... Sau khi cuộc sống nơi xứ người dần ổn định, cứ mỗi cuối tuần ông cố gắng thu xếp thuê một quán ăn làm sân khấu ca nhạc kịch để bạn văn nghệ gặp nhau, để Túy Hồng và ông có cơ hội sống lại với nhạc kịch.

LAO ĐỘNG & ĐỜI SỐNG
Chuyện tình đẹp như thơ, buồn như nước mắt của nhạc sĩ Lam Phương - ca sĩ Túy Hồng
(LĐĐS) - SỐ 36 THANH THỦY - 07:50 ngày 22/12/2013

Túy Hồng đóng kịch thời trẻ.
Đối với nhiều người, Lam Phương là nhạc sĩ tài hoa bậc nhất Sài Gòn trước năm 1975 với những tác phẩm để đời như Khúc ca ngày mùa, Kiếp nghèo, Phút cuối, Tình bơ vơ, Thành phố buồn... Còn Túy Hồng cũng là nữ nghệ sĩ đa năng bậc nhất Sài Gòn khi ấy, khi bà vừa là ca sĩ, kịch sĩ...
Trai miền Tây gặp gái miền Đông
Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh năm 1937, tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tuổi thơ của Lam Phương là một chuỗi ngày dài buồn đau và bất hạnh. Nhà nghèo, cha của ông đi theo tiếng gọi của tình yêu mới, bỏ 6 người con tuổi còn thơ dại cho người vợ không nghề nghiệp ổn định, một mình tảo tần hôm sớm nuôi con. Năm ông mười tuổi, mẹ gửi ông lên Sài Gòn, ở nhà của người bác ruột để ông được học hành, nhờ đó mà lịch sử tân nhạc nước nhà có được một nhạc sĩ Lam Phương.
Lên Sài Gòn, Lâm Đình Phùng học ở trường Les Lauriers. Ngoài giờ học văn hóa, ông còn học thêm nhạc. Ông tự học guitare bằng các tài liệu tiếng Pháp do lúc đó ở Việt Nam chưa có sách dạy nhạc tiếng Việt. Thấy ông là một học trò nghèo nhưng chăm chỉ, các thầy dạy nhạc (nhạc sĩ Hoàng Lang, nhạc sĩ Lê Thương) tận tình chỉ dạy cho ông mà không nhận tiền thù lao. Năm 1952, sáng tác đầu tay của ông, nhạc phẩm Chiều thu ấy ký tên Lam Phương ra đời. Ông vay tiền của bạn bè để mướn nhà in in nhạc, sau đó thuê xe chở nhạc đi bán lẻ khắp Sài Gòn. Năm ấy, ông mới 15 tuổi.
Thành công với tác phẩm đầu tay, Lam Phương càng miệt mài sáng tác.  Ba năm sau, Lam Phương tung ra hàng loạt ca khúc viết về quê hương, trong đó nổi tiếng nhất là Trăng thanh bình, Nắng đẹp miền Nam, Nhạc rừng khuya, Khúc ca ngày mùa... Đặc biệt, nhạc phẩm Khúc ca ngày mùa thành công vượt bậc hơn cả. Bản nhạc được viết theo thể loại nhạc đồng quê, nhịp điệu Mambo, với âm giai bằng cung rê thứ. Các hãng đĩa nhựa như Dư âm, Sóng nhạc, Asia... tranh nhau ký hợp đồng với Lam Phương để được thu âm bài hát Khúc ca ngày mùa này, tiếng tăm của bản nhạc mới thật sự bùng nổ. Với tiếng hát điêu luyện của đôi song ca tài danh Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, lúc hợp, lúc bè, lúc đuổi như càng đưa bài hát lên chín tầng mây. Khúc ca ngày mùa còn được hầu hết các trường học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long chọn để dạy cho học trò ca múa. Lam Phương đã thật sự thành danh khi ông mới 18 tuổi.
Túy Hồng tên thật Trương Ánh Tuyết, bà sinh ra tại Bình Dương và lớn lên tại Sài Gòn. Túy Hồng có người anh trai là bạn thân của Lam Phương, những ngày thứ bảy và chủ nhật, Lam Phương thường đến nhà bạn để hòa nhạc và dạy hát cho Túy Hồng. Túy Hồng rất ngưỡng mộ Lam Phương vì mới 15 tuổi mà đã sáng tác được bài Chiều thu ấy. Về phía Lam Phương, nhạc sĩ trẻ này cảm thấy chưa có cô gái nào hát nhạc mình hay bằng Túy Hồng. Thời điểm này, Lam Phương lại đang hợp tác với ban nhạc kịch lớn Dân Nam nên đề nghị Túy Hồng cùng với mình đầu quân về đoàn. Kể từ đó, Túy Hồng bắt đầu trình diễn các ca khúc của Lam Phương và rất thành công với các ca khúc: Đèn khuya, Kiếp nghèo, Kiếp ve sầu, Tiễn người đi, nhất là hai bản Chiều tàn và Phút cuối.
Đưa nhau lên đỉnh vinh quang
Lam Phương -Túy Hồng cưới nhau năm 1959. Lúc đó, ngoài phần phụ trách nhạc cho ban kịch Dân Nam, Lam Phương còn viết nhạc nền cho các ban kịch lừng danh thời đó như: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng. Đến năm 1968, với sự động viên của chồng, Túy Hồng đứng ra thành lập riêng một đoàn kịch - Đoàn kịch “Sống -Túy Hồng”. Chính đoàn kịch này đã đưa tên tuổi của Lam Phương và Túy Hồng lên tột đỉnh vinh quang. Đoàn kịch Sống -Túy Hồng còn có một lợi thế mà ít ban kịch nào có được, đó là ban kịch đưa các bài tình ca vào các vở diễn thành công nhất, nhờ phần lớn các bài hát tuyệt vời của người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương, thời điểm đó là đức phu quân của Túy Hồng. Kịch do Sống -Túy Hồng dựng không quá bi thảm, kết thúc luôn dành chỗ đứng cho một niềm hạnh phúc nào đó, khán giả xem kịch Sống -Túy Hồng.

Chính đoàn kịch này đã đưa tên tuổi của Lam Phương và Túy Hồng lên tột đỉnh vinh quang. Đoàn kịch Sống -Túy Hồng còn có một lợi thế mà ít ban kịch nào có được, đó là ban kịch đưa các bài tình ca vào các vở diễn thành công nhất, nhờ phần lớn các bài hát tuyệt vời của người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương, thời điểm đó là đức phu quân của Túy Hồng. Kịch do Sống -Túy Hồng dựng không quá bi thảm, kết thúc luôn dành chỗ đứng cho một niềm hạnh phúc nào đó, khán giả xem kịch Sống -Túy Hồng thường ra về với một tâm trạng nhẹ nhõm.
Tất cả những vở kịch của ban kịch Sống -Túy Hồng (do Túy Hồng đóng chính) đều ghép nhạc của Lam Phương vào phần ngoại cảnh, làm cho vở kịch sống động hơn, truyền cảm hơn, thu hút người xem nhiều hơn. Ngược lại, mỗi nhạc phẩm của Lam Phương vừa ra đời đều được “giới thiệu” trong một vở kịch của Túy Hồng. Thời ấy, cứ mỗi tối thứ năm hàng tuần, Đài truyền hình Sài Gòn có tiết mục “thoại kịch” và những vở kịch của ban kịch “Sống -Túy Hồng” bao giờ cũng thu hút nhiều người xem. Thời ấy truyền hình còn hiếm, người ta kéo nhau đến những nhà có tivi để xem kịch “Sống -Túy Hồng”, trong nhà, cửa ra vào, ô cửa sổ... đều chật cứng người xem. Tôi còn nhớ, khi bài hát Thành phố buồn của Lam Phương được hát dìu dặt trong suốt một vở kịch của Túy Hồng phát trên truyền hình, sáng hôm sau bài hát ấy bán đắt như tôm tươi, chàng học sinh, sinh viên nào cũng muốn mua bài Thành phố buồn về để trên kệ sách.
Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại phong phú, hầu hết các ca khúc ông đưa ra đều in đậm dấu ấn trong đời sống âm nhạc miền Nam, điển hình như Chờ người, Tình bơ vơ, Duyên kiếp, Thành phố buồn, Tình chết theo mùa đông...
Ông bước lên vị trí một nhạc sĩ thành công nhất miền Nam về mặt tài chánh. Còn bà Túy Hồng cũng sánh ngang với những Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng trên sân khấu kịch nghệ. Vợ chồng Lam Phương – Túy Hồng cất nhà lầu, sắm xe hơi, trở thành đôi vợ chồng nghệ sĩ giàu có bậc nhất lúc bấy giờ. Sáng 30.4.1975, vào phút chót Lam Phương – Túy Hồng đã nghe theo người bạn đem gia đình lên tàu Trường Xuân ra khơi. Vì trước đó không có ý định ra đi, nên Lam Phương xuống tàu với 2 bàn tay trắng, bỏ lại hai căn nhà lầu, chiếc xe hơi mới toanh và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng (lúc đó vàng 9999 chỉ khoảng 36.000 đồng/lượng).
Buồn như nước mắt
Đến định cư ở Mỹ, để có tiền nuôi vợ con, Lam Phương phải làm đủ thứ nghề, từ lau sàn nhà, dọn dẹp cho hãng Sears, đến những việc nặng nhọc như thợ mài, thợ tiện... Sau khi cuộc sống nơi xứ người dần ổn định, cứ mỗi cuối tuần ông cố gắng thu xếp thuê một quán ăn làm sân khấu ca nhạc kịch để bạn văn nghệ gặp nhau, để Túy Hồng và ông có cơ hội sống lại với nhạc kịch.

Chính trong khoảng thời gian này, một điều mà Lam Phương không bao giờ ngờ tới đã xảy đến: Túy Hồng không còn chung thủy với ông nữa, bà đã “ôm cầm sang thuyền khác”. Trong tâm trạng đau khổ, uất hận, Lam Phương lại cho ra đời một tuyệt phẩm mang tên Lầm, với những câu từ chua xót: “Anh đã lầm đưa em sang đây. Để đêm thường nghe tiếng thở dài/Thà cuộc đời yên trong lòng đất. Được trở về tiếng khóc ban sơ/Hơn là mang kiếp mong chờ. Anh đã lầm đưa em về đây. Cho tâm hồn tan nát từng ngày. Cùng điệu nhạc lâm ly huyền bí. Dìu lòng người sang chốn đam mê. Đưa anh vào khổ lụy hôm nay...”.
Lam Phương rời Mỹ để trốn chạy niềm đau, ông sang Paris làm công cho một tiệm tạp hóa, quét dọn, đóng gói, khuân vác… Cho đến một ngày, ông gặp được một tình yêu mới và ông đã kết hôn với người đàn bà này. Lam Phương như cây khô được hồi sinh, ông lại sáng tác các ca khúc ngợi ca tình yêu, như: Mùa thu yêu đương, Tình hồng Paris, Tình đẹp như mơ, Bài tango cho em... Thế nhưng, chỉ được vài năm, người phụ nữ từng tạo cho ông niềm say mê để viết nên câu ca “Từ ngày có em về, nhà mình tràn ánh trăng thề”,  rồi cũng bỏ ông mà theo người khác.
Năm 1995, Lam Phương trở về Mỹ và kết hôn với một phụ nữ khác. Định mệnh khiến xui thế nào ông lại sáng tác bài Một mình. Tháng 3.1999, ông bị tai biến mạch máu não, liệt nửa bên người, giọng nói không được bình thường. Rồi người đàn bà thứ ba cũng lẳng lặng rời xa ông. Giờ đây, ông sống một mình với chiếc xe lăn trong căn nhà hiu quạnh. Hơn 50 năm sáng tác với khoảng 200 ca khúc để cuối cùng bài hát Một mình đã vận đúng vào đoạn cuối đời ông!